BÀI MỚI CẬP NHẬT

Ngày Trở Lại

Ba mươi chín năm rồi, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam vẫn mãi trong tim tôi như người Mẹ hiền nuôi nấng dạy dỗ và chấp cánh cho tôi bay. Mẹ dạy cho con đâu là quê hương, đâu là nòi giống, đâu là tình yêu, đâu là hận thù. Mẹ dạy cho con biết thương màu da, biết thương giống nòi tủi nhục.

Mỗi lần nhắc đến Đà Lạt, một nỗi buồn man mác nổi dậy trong lòng tôi. Tôi yêu Đà Lạt không phải vì thành phố đẹp, không phải vì chốn du lịch hữu tình có thông reo vi vu với gió lộng thác ngàn, nhưng chính vì nơi đó tôi đã chôn bao kỷ niệm êm đềm, bao ước mơ của một thời trai trẻ, nơi đó có trường Mẹ của tôi, “Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.”

Thuở ấy, dân tộc mình nhiều nỗi điêu linh, chiến tranh triền miên, chết chóc điêu linh, và hận thù tủi nhục. Tuổi đôi mươi, tôi quyết tìm cho mình một hướng đi, một hoài bão, một ước vọng. Chỉ có “binh nghiệp” con đường duy nhất để dấn thân và mong đóng góp sức bé nhỏ của mình vào sự nghiệp chung của dân tộc. Tôi vào Võ Bị.

Ước mơ chưa trọn vẹn, chưa đóng góp  được gì cho đất nước, mặc dù là những đóng góp muộn màng bé nhỏ! Rồi than ôi! Vận nước đến hồi nghiệt ngã, tất cả đã sụp đổ, nước mất nhà tan. Những đứa con của Mẹ giờ lưu lạc trên khắp bốn phương trời. Những kẻ tự cho mình chiến thắng đã thẳng tay đập phá, cày nát, băm xới hình hài của Mẹ. Họ muốn xóa tan đi cái dấu vết oai hùng của một quân trường đã từng đào tạo ra những sĩ quan kiệt xuất của một quân đội anh hùng, luôn tôn thờ một lý tưởng “Quốc Gia”.

Tôi trở về thăm Đà Lạt tháng 3 năm 2009. Tôi muốn được nhìn lại hình ảnh của trường Mẹ như đứa con sau bao năm xa xứ, lưu lạc trở về. Mẹ ơi, chúng con đã mất tất cả, chỉ còn lại một hình hài bé nhỏ, thân xác héo tàn bởi sự xói mòn nghiệt ngã của thời gian và ngọn lửa hồng vẫn âm ỉ cháy trong tim. Mẹ ơi! Chúng con đã không bảo vệ được Mẹ dù chúng con đã làm hết sức mình. Nhìn thân xác Mẹ rã rời, dân tộc mình vẫn thống khổ, lòng con quặn đau. Chúng con đã cống hiến trọn tuổi thanh xuân, quên đi tất cả ham muốn bé nhỏ tầm thường của những đứa con, tất cả cùng về đây hòa chung một ước vọng, đó là tiếng gọi “quê hương”.

Đoàn xe đưa chúng tôi hướng về trường Mẹ. Tôi đi đến nơi mà 34 năm trước đây, ngạo nghễ tấm bảng, “Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Nơi Quy Tụ Những Chàng Trai Việt Có Lý Tưởng Quốc Gia Dân Tộc” đầy ấn tượng mà tôi đã nhìn thấy ngày đầu tiên bước chân vào Võ Bị. Ôi! Một thời kiêu hãnh, một thuở tự hào còn đâu nữa!

Bãi tập chiến thuật số 3, bài học chiến thuật vỡ lòng đầu đời binh nghiệp trong mùa Tân Khóa Sinh, cũng là nơi tôi đã huấn luyện cho khóa đàn em bài, “Di Chuyển Và Sử Dụng Vũ Khí” với bục bãi vẫn còn đây nhưng tất cả đã bị đập phá để xây dựng công viên du lịch rẻ tiền, dĩ nhiên ai muốn vào thì phải mua vé! Đồi thông không còn những nét đẹp hoang sơ như thuở nào. Mặt nước hồ bị thu hẹp lại do các vườn rau gieo trồng bừa bãi thiếu kiểm soát. Đường vào cổng Thái Phiên, bên trái là cư xá sĩ quan, nay đã thay chủ; vườn artichoke thơ mộng những buổi sang ướt sương nằm bên phải, đã được san lấp xây cất không còn chổ trống.

Cổng Thái Phiên một thuở điểm hẹn hò của những chàng trai Võ Bị và những tà áo dài thướt tha những ngày cuối tuần, giờ đây chỉ còn anh bộ đội ngơ ngác với nón cối dép râu, tay lăm le khẩu súng. Rẽ phải là con đường dẫn đến ấp Thái Phiên nhiều kỷ niệm. Còn đâu nữa những gốc thông già, những bụi mimosa… Cũng chính nơi này tôi đã học bài chiến thuật phục kích và chống phục kích. Những hình phạt tấn công chân đồi Bắc với những lý do không đâu của thời tân khóa sinh. Tất cả giờ đây không còn nữa, họ đã đốn phá và xây cất nhà cửa.

Rẽ trái là hướng về cổng Tôn Thất Lễ. Tôi tách đoàn đi vào rừng thông phía trạm gác chân tiền đồn, cố gắng tiếp cận càng gần trường càng tốt, nhưng cây cối cùng bụi rậm đã chặn bước tôi đi. Trạm quân xa giờ đây là những ngôi nhà mới xây chắc phải là của những tên cán bộ. Tôi đứng nhìn Mẹ thì thầm, “Mẹ ơi! Con đã trở về đây, con về đây thăm Mẹ không phải là đoàn quân chiến thắng, bằng khúc khải hoàn ca mà trong nghẹn ngào tức tưởi.” Thời gian, gió mưa đã bào mòn thân xác Mẹ. Tôi đứng lặng, một nỗi niềm chua xót trào dâng.

Doanh trại EF+GH vẫn còn đó đã ghi dấu biết bao kỷ niệm. Tôi dường như vẫn còn nghe văng vẳng đâu đây nhịp khúc quân hành: “...Đi là đi chiến đấu, đi là đi chiến thắng. Đi là mang linh hồn non sông...” Tiếng la hét, thịnh nộ của cán bộ đàn anh dìu dắt, dạy dỗ đàn em, những bài học đã làm ý chí tôi thêm sắt đá.

Phạn xá vẫn còn đó, nơi đã nuôi dưỡng tôi 4 năm trời. Cơm quân trường, cơm đạm bạc nhưng đó là dòng sữa của Mẹ hiền tiếp sức cho đàn con thêm nghị lực vượt qua chặng đường dài. thư viện, nhà văn hóa, sân cỏ trung đoàn, nơi đã thắm biết bao mồ hôi trên từng ngọn cỏ của đàn con còn ngơ ngác ngày đầu bước chân vào lính. Vũ đình trường uy nghi, đài tử sĩ gió ù ù thổi, nơi này, nơi đây hương hồn anh linh những bậc tiền nhân về chứng giám phò hộ cho đàn em ngày lên đường ra trận.

Ba mươi bốn năm trước, chính tại nơi vũ đình trường này, trước quốc dân đồng bào, trước anh linh tử sĩ, và trước ngọn lửa thiêng truyền thống, chúng con đã quỳ xuống trong ngày mãn khóa. Tôi còn nhớ rõ từng lời nói của vị chỉ huy trưởng, Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ:
“Kính thưa Tổng Thống,
Tôi xin trân trọng trình diện 186 Sinh Viên Sĩ Quan khóa 27, những SVSQ này đã thụ huấn 4 năm tại trường và hôm nay sẵn sàng lên đường phục vụ  Tổ Quốc và Dân Tộc.”

Nước mắt tôi ràng rụa, khóc vì hãnh diện, khóc vì sung sướng, và có ai ngờ rằng đó là lần mãn khóa cuối cùng của trường Mẹ, và chúng con không bảo vệ được Mẹ, không giữ được đất nước! Tất cả hình ảnh đó giờ đây chỉ còn trong ký ức. Tôi chợt nhớ câu thơ cuối của bài Thăng Long Thành Hoài Cổ của bà Huyện Thanh Quan: “Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.”

Đoàn xe chở chúng tôi trở về thành phố Đà Lạt, đồi Sân Cù giờ đây họ cũng đào xới, nới rộng vườn hoa thành phố thành điểm tham quan du lịch. Tôi cố tìm nơi cao điểm nhất để tìm hình ảnh của trường Mẹ dù chỉ là những doanh trại màu trắng nhưng cũng không thấy. Hồ Xuân Hương, khuôn viên Đại Học Đà Lạt, Trung Tâm Nguyên Tử Lực gợi cho tôi biết bao kỷ niệm một thời để thương và một thời để nhớ.

Hôm sau, đoàn đi thăm Thung Lũng Tình Yêu. Đoàn xe vào công viên bên đồi thông của đập Đa Thiện, cũng có cây, cũng có cảnh, cũng những trò chơi giải trí, những thứ đó tôi không cần đến. Cũng còn con đường đá đỏ ven rừng mà mấy mươi năm trước trong những ngày Chúa Nhật không tiền đi phố, một lần tôi đi bộ băng qua đồi thông đến đập Đa Thiện ngồi một mình ngắm cảnh, suy tư tìm về cái gì đó cho riêng mình.

Tôi quyết định tách khỏi đoàn đi vào ấp Đa Thiện, nơi có những vườn rau. Cũng những mái nhà nho nhỏ đơn sơ, cuộc sống của những người dân tay lấm chân bùn, 34 năm qua vẫn thế, cả cuộc đời lam lũ cơ cực. Mấy gốc thông già còn đây vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, vẫn chịu đựng cảnh nghiệt ngã thăng trầm của đất nước, vẫn như còn đợi chờ ai… Chính tại nơi này, khóa 27 chúng tôi đã ngồi ăn cơm sau khi học bài, “Hành Quân Trực Thăng Vận Và Hành Quân Nhị Thức Bộ Binh - Thiết Giáp.” Tôi vẫn còn nhớ rất rõ.

Tôi rẽ vào vườn rau, đến gặp một bác nông dân tuổi khoảng bát tuần, cái tuổi gần đất xa trời lẽ ra phải được nghỉ ngơi mà vẫn còn phải lo cái ăn cái mặc. Sau mấy lời xã giao, tôi hỏi bác:

- Bác ở đây và làm nghề này lâu chưa, thưa bác?

- Hơn 40 năm rồi, cậu. Tôi từ miền Trung vô lập nghiệp khoảng năm 1966. Lúc ấy ngoài đó chiến tranh khốc liệt quá!

- Vậy bác có biết trường Võ Bị ở đâu không, thưa bác?
- Đây nè chú, hướng này nè. Vừa nói bác vừa chỉ tay về hướng trường Võ Bị. Cây cối phủ kín rồi chú ơi, không thấy gì đâu!
- Cháu nghe nói SVSQ Đà Lạt bê bối và tai tiếng lắm, phải không bác?

- Đâu có, chú! Ai lại nói vậy! SVSQ người ta đàng hoàng, kỷ luật lắm đó. Tôi có đứa con nó muốn vô lắm mà thi rớt, chắc tại nó học dở. Bác cười. Mà chú ở đâu tới vậy?

- Tụi cháu ở Sài Gòn lên thăm Đà Lạt, nghe nói hồi xưa có trường Võ Bị nổi tiếng ở Việt Nam, cháu muốn biết vậy mà.

Tôi chào và kiếu từ bác.

Mẹ ơi! nước đã mất, nhà đã tan, kẻ thù đã bôi xấu Mẹ, lăng nhục Mẹ nhưng những đứa con của Mẹ vẫn tự hào, hãnh diện, hình ảnh những đứa con của Mẹ vẫn mãi mãi in sâu vào lòng dân Đà Lạt và cả trong lòng dân tộc nữa, phải không Mẹ?

Tôi mua vé xe dịch vụ đưa người lên thăm đỉnh Lâm Viên, nơi mà 39 năm trước tôi chưa chinh phục được. Đêm gắn alpha, theo truyền thống Võ Bị, vì tình hình an ninh, lúc đó không cho phép khóa 27 leo núi, chỉ cử đại diện của từng đại đội leo mà thôi. Lên đến đỉnh, tôi lại cố tìm một cao điểm để một lần nữa tìm về hình ảnh của trường Mẹ, để chỉ cho mọi người biết một quân trường nơi tôi đã từng học, bỏ lại sau lưng những kỷ niệm của tuổi học trò, gia đình, bạn bè, người thân kẻ thuộc, và cả một tình yêu. Tôi đã tìm hướng đi của riêng mình và tôi đã đi vào cuộc chiến. Hôm ấy tôi trở thành hướng dẫn viên du lịch bất đắc dĩ. Và tôi  cũng chẳng thấy được gì! Phải chăng là định mệnh, là số phận nghiệt ngã, mây mù, rừng cây vẫn âm thầm lặng lẽ chặn bước ta về.

Hôm sau, tôi rời thành phố Đà Lạt, khu Hòa Bình, hồ Xuân Hương, những ngôi biệt thự dần dần khuất sau những rặng thông. Tôi cố vươn đôi mắt nhìn ra cửa sổ, tìm một vài hình ảnh nào đó, cố gắng níu kéo lại những gì sắp đi xa. Tôi nhắm nghiền đôi mắt, hình ảnh thành phố Đà Lạt hiện ra trong suốt chặng đường về. Đà Lạt mến yêu, Đà Lạt nhiều kỷ niệm ôm ấp trong lòng Mẹ của tôi, “Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.”

Một lần nữa giã từ trường Mẹ, một lần nữa tạm biệt thành phố thân thương. Dù kẻ thù có hung hãn, dù nghiệt ngã của thời gian, Mẹ tôi vẫn còn đó, vẫn âm thầm lặng lẽ, chắt chiu từng giọt sữa quê hương, vẫn giữ ấm ngọn lửa hồng chờ đoàn con “ngày trở lại.”           

Trần Văn Hổ K27


ĐẶC SAN ĐA HIỆU ONLINE
NHIỆM KỲ 2010 - 2012


86

87

88

89

90

91
Đa Hiệu 91 - Countdown

TIN NÓNG

VN phản đối LHQ cấp quy chế tỵ nạn cho giáo dân Cồn Dầu

Bộ Ngọai giao Việt Nam hôm thứ Tư 1-9-2010 cho biết sẽ phản đối mọi quyết định của Liên Hiệp Quốc cấp quy chế tỵ nạn chính trị cho số giáo dân Cồn Dầu chạy sang Thái Lan lánh nạn sau cuộc đàn áp đẫm máu của công an hồi tháng 5.

RFA

Những người dân Cồn Dầu đang lánh nạn tại Thái Lan phải sống lén lút. (theo yêu cầu vì an toàn chưa tiện để thấy mặt) RFA

34 giáo dân Công Giáo này đã tới thủ đô Bangkok của Thái Lan và xin Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc UNHCR cho họ được hưởng quy chế tỵ nạn chính trị. Hiện họ rất lo ngại cho sự an tòan của thân nhân họ còn ở lại quê nhà.

Số người lánh nạn vừa nói thuộc Giáo xứ Cồn Dầu ở gần thành phố Đà Nẵng, nơi công an đã đánh trọng thương và rồi bắt giam hàng chục người Công Giáo sau cuộc đàn áp ấy.

Nhưng giới cầm quyền cho rằng trường hợp xảy ra tại Giáo xứ Cồn Dầu là hòan tòan không liên quan gì tới tôn giáo. Phát ngôn viên của Bộ Ngọai giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga, lên tiếng như vậy với Thông tấn xã Đức Quốc DPA hôm thứ Tư 1-9.

Theo viên chức này thì không có chuyện đàn áp tôn giáo hay chính trị tại Việt Nam, do đó, “mọi quyết định công nhận công dân Việt Nam là người tỵ nạn chính trị là vô căn cứ và không thích hợp”.

Chính phủ Việt Nam cho rằng cuộc xung đột ở Cồn Dầu bắt nguồn từ việc tranh chấp đất đai, khi người dân Cồn Dầu tìm cách cử hành một đám tang ở khu nghĩa trang Công Giáo vốn bị chính quyền quy họach di dời để biến nơi này thành khu du lịch sinh thái Hòa Xuân.

Hồi tháng 8 vừa rồi, thân nhân của giáo dân Cồn Dầu lên tiếng trước một Ủy ban của Quốc Hội Hoa Kỳ rằng công an đã đánh đập người thân họ, và một giáo dân, ông Nguyễn Thành Năm, bị công an đánh chết trong đồn.

Khi lên tiếng với Đài Á Châu Tự Do mới đây, những người tỵ nạn ở Thái Lan cho biết tất cả đều muốn được tự do hành đạo. Và họ phải rời bỏ đất nước vì bị đàn áp, đe dọa.

Hiện họ rất lo ngại cho sự an tòan của thân nhân còn ở lại quê nhà, nơi, theo lời một người yêu cầu ẩn danh kể lại, công an thường xuyên theo dõi và kiểm tra hộ khẩu của người thân.

Vẫn theo những giáo dân tỵ nạn ấy, hiện họ không thấy an tòan trên đất Thái trong khi chờ Cao ủy Tỵ nạn quyết định về quy chế tỵ nạn cho họ, vì họ sợ bị cảnh sát Thái bắt và đưa trở lại Việt Nam.

Một phụ nữ trong nhóm cho Đài Á Châu Tự Do biết là trong 3-4 tháng nay nương náu ở xứ Chùa Vàng, nhóm giáo dân này phải đổi chỗ ở tới 7-8 lần vì lý do an tòan.




Trong những năm gần đây, đã xảy ra nhiều cuộc đàn áp của giới cầm quyền đối với tu sĩ và giáo dân Công Giáo, phần lớn bắt nguồn từ việc đất đai của Giáo Hội bị cưỡng chiếm.

Tại Hà Nội, hồi năm 2008 đã xảy ra nhiều tháng biểu tình của giáo dân tại Tòa Khâm Sứ và Giáo Xứ Thái Hà đòi lại đất của Giáo Hội mà Hà Nội cưỡng chiếm hồi thập niên 1960. Những vụ chống đối khác diễn ra tại Hà Tây và Đà Nẵng.

Việt Nam là quốc gia có số giáo dân Công gáio chừng 6 triệu người, nhiều thứ nhì tại Á Châu chỉ sau Philippines.

Theo dòng thời sự:

DẬY MÀ ĐI HỠI ĐỒNG BÀO ƠI

CẢNH SÁT DÙNG VŨ LỰC CƯỚP XÁC TẠI CỒN DẦU