BÀI MỚI CẬP NHẬT

Đi Tìm Niềm Tin

Định ăn cơm tối, thằng Tâm F30 gọi vọng trước cửa:
- Anh Cư làm gì đó, đi uống vài chai không?
Bỏ chén cơm xuống bàn, bước ra cửa trước, thằng Tâm ngồi trên xe Honda chờ sẵn nói vô:
- Bận quần ngắn cũng được mà….
Tâm có vẻ sốt ruột. Tôi không nói gì, quay vào xỏ cái quần lửng, loại mấy thằng Tây balô hay bận tà tà trên phố Sàigòn bây giờ. Chắc mấy ngài Việt kiều cũng khoái hay sao nên bây giờ ai cũng diện vào cho phải mode, cứ sợ rằng vận đồ bình thường thiên hạ lầm mình với Việt... Nam (!) Tôi cũng bày đặt mua một cái, xỏ vào để cho thông gió... mát mẻ "cái thằng phải gió"!
- Có vụ gì nhậu đây? Tôi hỏi Tâm.
- Có thằng bạn ngoài Huế vào, uống vài chai gặp mặt.
Ngồi sau xe, tôi nghĩ chắc có thằng K30 nào vô đây. Mà cái vụ bạn bè phương xa tới, thù tiếp dăm ba chai tâm sự là chuyện phải có của dân Võ Bị đất Sàigòn. Ra cái quán mà không phải quán, chỉ là cái sân trước cái quán "chạp -phô" của thằng em Tâm F30. Nhà tên này thuê trước mặt phố, cũng là dân nhập cư vào Nam tìm đất sống. Cái vỉa hè ấy, khi có bạn đến, lôi cái bàn nhựa ra, đi mua "mồi" đâu đó, tủ lạnh có sẵn bia bán khách vãng lai, vậy là y như người trong nhà, thoải mái uống và tán gẫu....
Ra khách là phe ta, tên là Cao họ gì quên mất, G30, sống ở đâu tận “vùng sâu , vùng xa" của Huế. Tên Anh K30 chở tới, bước xuống Honda ngơ ngác nhìn anh em. Ba mươi sáu năm rồi còn gì! Lờ quờ là phải. Hắn bắt tay tôi, không biết gọi sao, tên Tâm 30 nói:
- Ổng khóa 29 đó!
Nhìn tôi, tay chưa buông, Cao miệng nói nho nhỏ e dè:
- Chào anh!
Rõ tên này không phải dân Huế nội đô rồi. Đã dân VB sinh hoạt nhau lâu, mà dân cố đô Huế rất phải phép, gặp nhau vẫn như hồi trong Trường Mẹ: Niên trưởng rất thâm tình, mà quả thật, từ ngày tan hàng, phe ta tan đàn xẻ nghé, mỗi người mỗi phương, hết tù đày, kẻ thoát ra đời lăn lộn vào cuộc sống mòn, đứa vượt biển, người tìm chốn ẩn thân. Thế là, thời oanh liệt nay còn đâu! Cao K30 này cũng vậy, lùi về quê cái làng ngày xưa xôn xao hãnh diện khi có một tên duy nhất đậu vào Võ Bị Đà Lạt là hắn. Nhìn hắn ngồi bên thật ái ngại, trông thật buồn và ảm đạm u uẩn khó diễn tả. Tôi hỏi hắn:
- Ngày xưa mấy cha K27 có "quằn" mày dữ không?
- Đâu có anh...
Tôi hỏi vậy vì trông hắn "yếu đuối". Hai từ này rất thông dụng của mấy ngài cán bộ Tân Khóa Sinh, uy hiếp tinh thần mấy tên "quờ quạng" giả bộ "thảm thương", mà càng thảm thì càng... thương… tích đầy mình!
Số là, vụ lụt lội mấy tỉnh miền Trung, khóa 30 hay tin nhà một số phe ta ngoài nớ bị thiên tai bão lụt, lại bị thêm mấy cái thủy điện xả lũ, vạ lây thê thảm. Cao G30 là một trong số đó, mấy tên Sàigòn hay tin gom góp chút tình, gởi ra chia sẻ. Liên lạc được hắn cũng qua một số VB Huế, hắn nghe điện thoại lúc đang chống lại căn nhà nghiêng ngã sau cơn lũ dữ. Hắn cũng không biết thằng K30 nào đang gọi cho mình, thằng Hùng F30 hay thằng Tâm F30 gì đó nữa. Thời gian 36 năm trong chốn heo hút, cô đơn và trầm uất, hắn nghĩ thế gian này không còn ai biết tới mình nữa! Giờ chỉ có vợ con hắn thôi, người vợ mà hắn đang tự hào là đẹp nhất làng. Điều đó khiến hắn sung sướng, nguôi ngoai nổi hận "tan hàng". Cứ nhìn đôi mắt lim dim nốc bia có vẻ sảng khoái khi nhắc tới vợ hắn là biết ngay. Tôi cười hỏi đùa:
- Trông mặt mày "lờ quờ" dzậy sao lấy vợ đẹp nhất làng được?
Hắn cười, nhìn NT Nam K28 đang chăm chú chờ đợi câu trả lời:
- Nhờ tui đậu Võ Bị Đà Lạt, về làng em mê quá...
Ra thế, phe ta cũng có lắm em mê! Tôi thắc mắc hỏi dồn hắn:
- Mà tan hàng rồi, mày về em còn mê à?
Hắn chẳng có gì ấp úng cả, tự tin nói:
- Tôi vẫn có trình độ nhất làng.
Tôi thở phào nhẹ nhỏm vì biết thằng đàn em ta vẫn còn tin vào chính mình, chính cái làng quê nuôi sống mình từ lúc ấu thơ. Giờ đây, sự nghiệp gãy gánh giữa đàng, hắn vẫn ung dung tự tại cày trên mảnh đất cha ông để lại, và tên trí thức nông dân ấy, tên Võ Bị hừng hực nhiệt huyết ngày nào, trầm cảm thu mình như con ốc trong chiếc vỏ náu thân, hằng đêm vẫn không thôi nhớ về Trường Mẹ trong hun hút ngàn thông xa thẳm. Tên Tâm F30 hỏi hắn:
- Mi còn nhớ tao không?
Hắn nhìn quanh thật thà:
- Nhìn thì quen mà không nhớ tên được?
- Thì ai bảo mày nhớ tên, chỉ cần mày nhận phải phe mình không là đủ rồi! Thế hôm nay mi vào có việc gì, quan trọng không?
Hắn bỗng lặng đi, ngập ngừng không dám nói. Tên Tâm F30 nóng ruột hỏi tới:
- Mày có khó khăn gì không?
Tôi lại hỏi có vẻ nghiêm trọng:
- Hay mấy thằng CA xã thấy mày có tiền, nghi ngờ này nọ làm khó mày?
Tôi cứ lo ở cái vùng quê xa vắng đó, mấy ông Trời con thường hay dòm ngó mấy tên “Ngụy”, nghi kỵ và thay nhau vừa “quản“ và vừa “chế” đủ kiểu làm khó! Cao tự dưng nghẹn nghào làm cả bàn yên lặng, hắn nhỏ nhẹ nói:
-  Từ lúc nhận tiền của bạn bè Võ Bị Sàigòn gởi ra tương trợ, tôi không thể tin có chuyện này… nên phải vô xem… mặt để nhận ra thực hư!
Cả bàn thở ra rồi đồng một lúc la lên:
- Cái thằng này “lờ quờ“ hết chổ nói! Chuyện giúp đở anh em mình lúc hoạn nạn là chuyện làm thường xuyên của phe ta từ lâu rồi, mày cứ trốn mãi trong “núi” nên lờ quờ quá!
Hắn vẫn còn xúc động lắm, đôi mắt xa xôi, chậm chậm nhìn quanh xem có phải thực hư rồi rơm rớm nước mắt:
- Từ lúc “giải phóng” (cái thằng em bị hù quá nhập tâm ma) tới giờ, ngoài vợ con tôi ra, có ai giúp đở tôi gì đâu… cho nên tôi không tin chuyện này có trên đời….
Tôi bàng hoàng, lòng quặn thắt, vừa cười đau đớn nghĩ rằng tên Cao ni, y như hoàn cảnh nhân vật trong cuốn truyện viết về người lính Nhật cuối cùng sau Thế Chiến Thứ Hai, cũng cô đơn lẩn trốn trong rừng của một hoang đảo suốt 30 năm. 30 năm không gặp con người, sống như Robinson trong rét mướt mà đâu biết ngoài kia Nhật Hoàng đã tuyên bố đầu hàng! Vẫn không buông vũ khí, vẫn tìm cách phòng thủ, lẩn trốn khi có tiếng người, tin tưởng vào Nhật Hoàng và chiến đấu… lẻ loi một mình! Cao ta thì khác, có khác hơn là biết Ngài Tổng Thống ta đã nhục nhã đầu hàng, lúc còn nằm ở cái quân trường xa lạ ở Long Bình; còn Trường Mẹ thân thương phải đau đớn lìa bỏ ra đi trong uất hận! Ba mươi sáu năm, hắn nghĩ làm gì còn có một tập thể luôn dõi mắt tìm nhau, tay bắt mặt mừng sau bao năm xa cách? Điều không tin của hắn làm tôi vừa bực tức vừa thấy thương cảm! Thế đó, 36 năm cho hắn, 37 năm cho tôi để nghiệm rằng, vẫn còn, còn đâu đó NT và bạn bè vẫn đang cô đơn buồn thảm ở tận cái vùng heo hút nào đó….
Tôi vỗ vai hắn nói với NT Nam K28 ngồi đối diện:
- NT à! Chuyện thằng Cao này y như chuyện thằng Nghĩa K29 tôi. Hắn bị té xuống hố thoát nước bên đường làng khi chạy giấy tờ cho con đi thi đại học, bị thương liệt toàn thân vì chấn thương cột sống! Người tìm ra tung tích hắn là thằng Hùng F30, cũng dân Phan Thiết tui ngồi đây. NT thấy đó, tên Nghĩa K29 tui cũng “Anh hùng lỡ vận, lên rừng với vợ… đốt than!” Tụi kiểm lâm rượt dữ quá, khai hoang làm rẫy… tuyệt vọng trong xa xôi heo hút, ấy mà cơ duyên tìm gặp nhau, cũng khóc như con nít, cũng ngờ ngợ không tin ta lại tìm ta? Thằng Lê Thi ở Mỹ về lúc trước hay tin, cùng đại đội mà,  hỏi han và giúp đỡ tận tình. Lúc hoạn nạn, phe ta Sàigòn bàn tính gom tiền, lo xe chạy về Phan Thiết viếng thăm hắn. Đám VB Phan Thiết cũng hăng hái nhập cuộc, nào NT Toại K23, NT Triệu K28, Long 28, Bảy K30 và nhiều lắm làm sao nhớ hết được. Mấy tên VB Sàigòn gồm vợ chồng Giản, Đức… Cư tui tới thăm, hắn đang liệt giường… vợ con rầu rỉ bên cạnh chẳng biết tiền bạc đâu mà thuốc thang trong lúc nguy nan này. Chiếc xe “cá mập” xà tới cái bệnh viện tư nhân, đám y tá và bác sỹ ngạc nhiên không hiểu thăm viếng ai, dè dặt sợ thanh tra Y Tế chi đó “viếng thăm”, đâu có ngờ “đoàn quân” đổ bộ viếng thăm… một bệnh nhân… nghèo nằm chơ vơ chờ thuốc! Mà không ngạc nhiên sao được, cái đám người “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” kia lại đi thăm một gã bệnh nghèo không xu dính túi, đang héo hắt chờ thuốc, mà ác thay cái toa thuốc nhìn cái số tiền phải trả khiến vợ con và người bệnh “chết còn sướng hơn!”
Gã “thương binh” sững sờ nhìn chiến hữu… nước mắt tủi thân, ấp úng không nói nên lời! Còn vợ con thì bàng hoàng chưa biết chuyện gì đang xảy ra!? Tên Giản không cho “thương binh” Nghĩa ta ngồi dậy. Mà làm sao ngồi dậy nổi, hắn chấn thương cột sống mà, nằm ì ra trông cậy vào vợ con ngay cả việc vệ sinh cá nhân! Tôi thì quan sát cái nhà thương tư, cũng sạch sẽ, gọn gàng, nhưng thằng bạn mình thì nằm ngoài hành lang trống trơ, ai đi qua cũng có thể “chiêm ngưỡng” cái bất hạnh của một gã “bại binh!“
Ngài bác sỹ cũng hiếu kỳ bước tới và “ngài” vô cùng sửng sốt thấy bệnh nhân ngoài “tầm” của ngài, ngồi bật dậy, ôm lấy bạn bè ràn rụa nước mắt! Mấy nàng dâu Võ Bị đi theo không kìm được nước mắt bên cạnh vợ Nghĩa chưa hết xúc động. Lão Giản nhà ta càng ấp úng khó mà diễn tả câu dạo đầu cho màn viếng thăm này… Mà Cư tui làm gì để ý ba lời nói đó làm gì, chỉ thấy những đôi mắt đẫm lệ, cái nhìn cảm thông của đám VB Phan Thiết & Sàigòn kề cận bên nhau, nhìn những đứa con Trường Mẹ nghẹn nghào bên vòng tay thân ái!
Và đời thì biết bao chuyện lạ! Ngài bác sỹ lạ lùng khi nghe bác Nghĩa ta xin… đi tiểu, lạ lùng vì cả một thời gian dài nằm bệnh viện, gã “bệnh nghèo” của ngài chưa bao giờ làm được chuyện tối thiểu đó, cái đơn giản ấy phải “thông qua” bằng ống “ti-dô”, vợ hắn dìu hắn đi lần đầu tiên tới phòng vệ sinh, cũng sung sướng và lạ lùng như gã bác sỹ đang lạ lùng cho phép lạ đó?
Phải chăng cái tình cảm thiêng liêng ẩn giấu, chờ đợi, khát khao tìm nhau đã biến sức mạnh tinh thần vượt qua cái tê liệt rơn người do cô đơn và bất hạnh không? Mừng mà nhìn nhau trong thổn thức! Mừng đã toại được nỗi niềm. Và còn tự hào hơn trong ánh mắt vui mừng của vợ Nghĩa, người đàn bà đó sung sướng nhận ra rằng mình không cô độc bên chồng nữa, xung quanh đâu đây đã có lửa yêu thương của bạn bè. Những người lạ hoắc lạ huơ này sao như người ruột thịt vậy? Đó là câu chuyện của Tình Tự Võ Bị, của câu: KHÔNG QUÊN ANH EM, KHÔNG BỎ BẠN BÈ. Và Nghĩa ơi! mày đã đứng dậy, đã đang đến với chúng ta trong cái rẫy xa lắc đó, không phải bằng những đồng tiền tương ái ít ỏi, mà bằng ý chí khi tìm lại sợi dây cột chặt chúng ta lại trong ngôi nhà Võ Bị!
Về lại chuyện tên Cao K30! Hắn không bất hạnh như Nghĩa K29 tui, hắn chỉ thiếu thông tin, hắn đầy đủ tình yêu của vợ đẹp, con ngoan như hắn đang tự hào. Cái hắn thiếu mà hắn đang đi tìm cho rõ ngọn nguồn, là có thật một Tình Tự Võ Bị như vậy không? Mấy ngài Võ Bị Huế vô tình đã bỏ hắn cô độc trong thế giới “không còn gì nữa” của hắn. Trận lụt vừa qua không riêng gì hắn bị đau khổ mất mát, còn khối tấm chân tình của những con người thiện tâm ra tay cứu trợ, nhưng điều làm hắn ngạc nhiên là chưa tin vào tình tự Võ Bị!
Bây giờ ngồi đây, hắn nhìn chầm chầm ngón tay tôi, ngắm chiếc nhẫn Võ Bị muộn màng của Trường Mẹ, ao ước có một chiếc. Thằng Tâm K30 nạt:
- Mày sắm nhẫn làm gì!?
Hẳn tên Tâm ái ngại hắn không có tiền để “đua đòi”.
- Mày muốn đeo nhẫn phải nuôi ít nhất 3 con heo đó!
- Tao sẽ nuôi heo để sắm nhẫn! Hắn cương quyết nói.
- Mày có dám đeo không mà đòi mua?
Tên Tâm lo cái xứ xa xôi, mấy ông trời con CA xã sẽ “bon–tê“ hắn!
- Tao bỏ vào tủ cất!
Tên Tâm tức quá vì cái “lì” của Cao:
- Mày bỏ tủ cất thì sắm làm gì cho tốn tiền?!
Đến lúc này tôi chợt ngộ ra, nhìn Tâm và Cao và giải thích cho cả hai:
- Thằng Cao không sắm nhẫn để phô trương, mày nên hiểu, 36 năm quạnh quẽ thiếu mất hình bóng Trường Mẹ, cái niềm tin mà hắn hăng hái khi bước vào cổng Nam Quan 36 năm trước, hắn muốn có một bảo vật cất giấu để nâng niu, để nhớ lại một thời kỳ đẹp nhất trong một đời người. Bão giông đã cướp đi tất cả, cướp mất niềm tin, và giờ này cơn lũ hiện tại cũng đã cuốn phăng đi tất cả… nhưng còn sót lại một tình cảm vô giá mà hắn mới bất chợt tìm được.…
Tên Tâm K30 im lặng… và tên Cao nắm lấy tay tôi, hắn đã biết tôi đồng cảm với hắn. Tôi lại nhớ cái siết tay thân tình của NT Án K28 hồi ở Đắc-Nông dịp đám cưới con gái Thiêng K29, cũng cái sung sướng khi tôi đeo chiếc huy hiệu Trường Mẹ lên ngực NT. Cái báu vật linh thiêng giữa chốn thâm sơn lạnh lẽo, ngọn lửa vô hình sưởi lại con tim lạc loài thiếu vắng hình ảnh Trường Mẹ! Và tên Cao K30 hôm nay, trong ngôi làng xa xôi quạnh quẽ, từ đây biết đâu hắn sẽ vỗ béo mấy con heo, gom ba tạ thóc để sắm được cho hắn bảo vật để mà nhớ thương ấp ủ.
Cao K30 đề nghị đi hát Karaoke. Tôi dí dỏm hỏi đùa:
- Muốn ca ôm hay hát nhà? Hắn thật tình:
- Về nhà có Karaoke không?
Đúng là hắn đang “sướng” và đang khát khao giải bày.
-  Có phải nói không được muốn hát để giải bày không?
Hắn cười như ai nắm thót tim đen của hắn.
Về nhà Tâm F30 lại làm thêm vài chai. Ngắm nhìn hắn hát, lúc đầu líu ríu e dè, tôi giả giọng cán bộ TKS hét:
- Lớn lên anh…! Yếu đuối lắm anh…! Căm hờn lên mà sống anh!
Tiếng hắn to hơn, mạnh bạo hơn, lời ca da diết thêm hơn… và tôi như thấy hắn tìm lại giọng ca oai dũng với tiếng quân hành đều nhịp vang vọng sân cỏ trung đoàn ngày nào. Trong mắt hắn rực lại niềm tin bài ca:
            Ta đoàn sinh viên Võ Bị Việt Nam...

Cư Nguyễn K29
Sàigòn, 02/12/2009
(Để nhớ lại 37 năm ngày nhập trường khóa 29,
29/12/1972-29/12/2009)

ĐẶC SAN ĐA HIỆU ONLINE
NHIỆM KỲ 2010 - 2012


86

87

88

89

90

91
Đa Hiệu 91 - Countdown

TIN NÓNG

VN phản đối LHQ cấp quy chế tỵ nạn cho giáo dân Cồn Dầu

Bộ Ngọai giao Việt Nam hôm thứ Tư 1-9-2010 cho biết sẽ phản đối mọi quyết định của Liên Hiệp Quốc cấp quy chế tỵ nạn chính trị cho số giáo dân Cồn Dầu chạy sang Thái Lan lánh nạn sau cuộc đàn áp đẫm máu của công an hồi tháng 5.

RFA

Những người dân Cồn Dầu đang lánh nạn tại Thái Lan phải sống lén lút. (theo yêu cầu vì an toàn chưa tiện để thấy mặt) RFA

34 giáo dân Công Giáo này đã tới thủ đô Bangkok của Thái Lan và xin Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc UNHCR cho họ được hưởng quy chế tỵ nạn chính trị. Hiện họ rất lo ngại cho sự an tòan của thân nhân họ còn ở lại quê nhà.

Số người lánh nạn vừa nói thuộc Giáo xứ Cồn Dầu ở gần thành phố Đà Nẵng, nơi công an đã đánh trọng thương và rồi bắt giam hàng chục người Công Giáo sau cuộc đàn áp ấy.

Nhưng giới cầm quyền cho rằng trường hợp xảy ra tại Giáo xứ Cồn Dầu là hòan tòan không liên quan gì tới tôn giáo. Phát ngôn viên của Bộ Ngọai giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga, lên tiếng như vậy với Thông tấn xã Đức Quốc DPA hôm thứ Tư 1-9.

Theo viên chức này thì không có chuyện đàn áp tôn giáo hay chính trị tại Việt Nam, do đó, “mọi quyết định công nhận công dân Việt Nam là người tỵ nạn chính trị là vô căn cứ và không thích hợp”.

Chính phủ Việt Nam cho rằng cuộc xung đột ở Cồn Dầu bắt nguồn từ việc tranh chấp đất đai, khi người dân Cồn Dầu tìm cách cử hành một đám tang ở khu nghĩa trang Công Giáo vốn bị chính quyền quy họach di dời để biến nơi này thành khu du lịch sinh thái Hòa Xuân.

Hồi tháng 8 vừa rồi, thân nhân của giáo dân Cồn Dầu lên tiếng trước một Ủy ban của Quốc Hội Hoa Kỳ rằng công an đã đánh đập người thân họ, và một giáo dân, ông Nguyễn Thành Năm, bị công an đánh chết trong đồn.

Khi lên tiếng với Đài Á Châu Tự Do mới đây, những người tỵ nạn ở Thái Lan cho biết tất cả đều muốn được tự do hành đạo. Và họ phải rời bỏ đất nước vì bị đàn áp, đe dọa.

Hiện họ rất lo ngại cho sự an tòan của thân nhân còn ở lại quê nhà, nơi, theo lời một người yêu cầu ẩn danh kể lại, công an thường xuyên theo dõi và kiểm tra hộ khẩu của người thân.

Vẫn theo những giáo dân tỵ nạn ấy, hiện họ không thấy an tòan trên đất Thái trong khi chờ Cao ủy Tỵ nạn quyết định về quy chế tỵ nạn cho họ, vì họ sợ bị cảnh sát Thái bắt và đưa trở lại Việt Nam.

Một phụ nữ trong nhóm cho Đài Á Châu Tự Do biết là trong 3-4 tháng nay nương náu ở xứ Chùa Vàng, nhóm giáo dân này phải đổi chỗ ở tới 7-8 lần vì lý do an tòan.




Trong những năm gần đây, đã xảy ra nhiều cuộc đàn áp của giới cầm quyền đối với tu sĩ và giáo dân Công Giáo, phần lớn bắt nguồn từ việc đất đai của Giáo Hội bị cưỡng chiếm.

Tại Hà Nội, hồi năm 2008 đã xảy ra nhiều tháng biểu tình của giáo dân tại Tòa Khâm Sứ và Giáo Xứ Thái Hà đòi lại đất của Giáo Hội mà Hà Nội cưỡng chiếm hồi thập niên 1960. Những vụ chống đối khác diễn ra tại Hà Tây và Đà Nẵng.

Việt Nam là quốc gia có số giáo dân Công gáio chừng 6 triệu người, nhiều thứ nhì tại Á Châu chỉ sau Philippines.

Theo dòng thời sự:

DẬY MÀ ĐI HỠI ĐỒNG BÀO ƠI

CẢNH SÁT DÙNG VŨ LỰC CƯỚP XÁC TẠI CỒN DẦU