BÀI MỚI CẬP NHẬT

Đôi Guốc Mộc

  • Giải Ba truyện ngắn - Giải Sáng Tác Đa Hiệu 89
  • truyện ngắn TeaLan 26B

Sáng nay, trước khi lên đường tôi sửa soạn cho tôi gọn gàng trong chiếc quần tây màu nâu hơi sậm màu cho bụi đường có lấm vào không dễ thấy, áo tay ngắn màu hồng nhạt hạp với mùa hè đang oi bức, tóc cột lại phía sau để gió không có dịp đùa với tóc trước mặt để mắt có thể chiêm ngưỡng phong cảnh miền quê cùng theo với mùi hương của lúa trên đường về quê tôi. Một cái túi nhỏ đựng quần áo, một cái túi nhỏ khác đầy ắp trà bánh, và không quên mua vài ba ổ bánh mì tại bến xe gói kín lại cẩn thận chất lên túi. Những người ở miệt tỉnh rất thích có quà là bánh mì Sàigòn.

Xe vừa qua khỏi Phú Lâm là hưởng ngay mùi gió đồng bay vào mũi. Những lùm cây to chỉ còn ở trong xa tầm mắt để giữ an ninh cho con lộ ở hai bên đường, cho nên có khoảng trống bao la làm gió càng lộng thêm lên. Cánh đồng lúa vàng mênh mông, giống nhau chạy ngút ngàn có gì lạ đâu mà ngắm, quen rồi, mà vẫn thích ngắm. Miền đồng bằng sông Cửu Long không có nhiều hoa thơm cỏ lạ, không có núi đồi hùng vĩ hay thung lũng hoa tình, chỉ có màu xanh của cây trái và màu vàng của lúa chín. Nhưng nơi đấy là huyết mạch là nguồn chính nuôi sống dân miền Nam. Hàng ngày có hàng trăm chuyến xe từ dưới đổ lên chở đầy hàng hóa trên con quốc lộ huyết mạch này. Bởi vì sự quan trọng của Quốc Lộ 4, cho nên bọn người từ phía bên kia lợi dụng những đêm tối trời bắt dân ở trong làng ra đắp mô, gài mìn để giết hại, để cản trở, ngăn chận nguồn sống của người dân miền Nam. Áp lực, uy hiếp, dùng người dân bên này giết hại dân bên này là chính sách của bọn bên kia. Sáng ra, cũng chính người dân quê đó đi phá mô qua lệnh của mấy ông bên này. Tội nghiệp cho người dân quê bên này, một cổ mà bị hai tròng.

doi guoc moc 1Xe qua khỏi Trung Lương, tôi bắt đầu nhủ thầm không biết hôm nay có bị kẹt bắc, có bị chờ lâu hay không nữa. Nếu gặp đoàn convoy là kể như phải bị chờ lâu, họ sẽ được ưu tiên lên đò Mỹ Thuận trước. Mấy lúc gần đây có đoàn xe nhà binh di chuyển thường xuyên hơn, có khi mình phải đợi gần nửa ngày mới tới phiên mình, nghe bác tài xế nói như vậy.

Không biết việc gì ở phía trước mà chiếc xe chạy chậm lại và ngừng hẳn. Hành khách trên xe lao nhao, gần sắp tới Giáo Đức rồi mà không lẽ bị kẹt bắc dài dữ vậy sao... cũng có lúc xe bị kẹt bắc tới Giáo Đức là dài lắm rồi đó... mỗi người một câu. Ngồi trên xe nếu để ý sẽ thấy từ phía trước, bên trong xa... sau những cánh đồng... có chùm khói đen bay lên. Tin chuyền miệng... đường bị đắp mô, bị giựt mìn... một khúc đường bị cắt từ hồi khuya... người ta đang còn phá mô, đang sửa lại đường. Một hành khách trên xe nói, mấy ông bên kia lúc rày về phá đường hoài, mình ở trển gạo lên giá, ở dưới này gạo cá ăn không hết ứ đầy ra.

- Im lặng đi bà con, mới nghe được tiếng súng nổ. Họ đang đánh nhau kìa. Có một mặt trận ở chỗ lùm cây to từ trong xa kìa! Đó, thấy không? Mấy ổng đang đánh nhau ở chỗ đó. Kìa, có ba chiếc trực thăng đang quần trên trời bay vòng vòng ở trên chỗ đó, có thấy không? Đó, trực thăng đang chúi xuống bắn đó... đó! Trong kia thì đánh nhau chết chóc, ngoài này đường bị giựt mìn đắp mô, thật khổ quá đi.

Chắc phải chờ lâu lắm, mọi người xuống xe, tôi cũng xuống xe, đưa mắt nhìn quanh kỹ hơn. Có vài mái tranh, có vài cây mọc thưa lá, có hơn mươi người lính Nghĩa Quân có lẽ đang tạm nghỉ quân, bộ quân phục họ đang mặc dính đầy bùn sình, gương mặt người lính nào cũng hiện lên vẻ mệt mỏi. Có vài người mắc võng nằm ngủ say như chết mặc kệ tiếng xe ngừng, tiếng ồn ào từ đám hành khách không làm phá giấc ngủ của họ. Mặc cho tiếng súng nổ gần trong kia, mặc cho cụm khói đen trong kia vẫn còn bay.

Đám hành khách đi lên phía trước hướng về Giáo Đức, tôi cũng đi về phía đó không quên mang theo hành lý của mình. Tôi có người cô bà con đang sinh sống ở Giáo Đức, tôi sẽ ngủ nhờ tại đó đêm nay nếu qua đò không kịp. Đoàn người đi bộ cũng khá đông, họ nhanh nhẹn và dường như sự việc xảy ra quen thuộc với họ. Nảy giờ đi bỏ lại chỉếc xe đò của mình mất hút lại phía sau rồi. Còn tôi, sau một quãng ngắn thấy mình bị bỏ lại đàng sau là tôi bước như chạy để bắt cho kịp với họ. Muốn đi nhanh, khó cho tôi quá. Có gì đâu, chỉ vì đôi guốc. Đôi guốc mộc của tôi.

Đôi guốc tôi mới mang lần này là lần thứ nhì, tôi thích nó lắm, nó màu nâu sậm với quai cũng màu nâu có điểm lấm tấm vài hoa màu ngà nho nhỏ, bàn chân trắng của tôi mang nó vào trông rất là dễ thương, tôi tự ngắm và tự khen như vậy. Đừng đổ thừa nó có gót cao, chỉ có năm phân thôi chớ mấy. Sắp tới quận rồi bà con ơi, có vài mái nhà của dân từ trong xóm Giáo Đức bắt đầu hiện ra xa xa kìa. Đang đi thì bỗng đâu có một tràng súng nổ liên hồi gần bên tai, bà con nhốn nháo, mọi người chạy lùi trở lại. Tôi có mang guốc mà chạy bao giờ, lỡ trật chân không đi được chỉ có nước bỏ xác tại đây. Mấy ổ bánh mì mang theo trong túi xách bị rơi mất hồi nào, mặc kệ, có chỗ để thế vào đấy cho đôi guốc mộc của tôi. Trời ơi, hồi nào tới giờ tôi có chạy giặc bao giờ đâu. Tôi ở Sàigòn mà! Nhớ hồi năm Mậu Thân lộn xộn vậy mà xóm tôi bình yên, giặc có tới được xóm tôi đâu mà tôi biết chạy giặc. Mang guốc chạy không được, bỏ guốc ra, chạy chân đất, bị đau chân gần chết cũng phải chịu, chạy phải lựa chỗ nào thấy đất nhám nhám là tránh ra.

Nghĩ cũng lạ, sợ hãi là bản tính của con người, vậy mà khi không còn nghe tiếng súng gần bên nữa mọi người không ai bảo ai đều dừng lại, không muốn lui lại nữa chỉ muốn đi tới phía trước, hướng quận Giáo Đức. Tới sông Tiền Giang qua đò Mỹ Thuận được rồi, mọi trở ngại khác đều là nhỏ nhoi đối với họ. Tôi cũng dừng lại ngồi bệt xuống đất thở dốc, không đói nhưng khát khô cả cổ họng; mặt mày bơ phờ, áo quần bụi bậm, tóc rối gió bay. Chỗ tôi ngồi nhìn ngang qua trong xa chỗ có cụm khói đen, nhìn gần tôi hơn vài thước thấy có vài chiếc quân xa với mấy cái bình máy móc và cần câu. Có một toán quân mặc đồ bông bên vai có hình con cọp nhe mấy cái răng nanh, tôi biết đấy là phù hiệu của lính Biệt Động Quân. Tôi không thấy họ đang đánh nhau, không bắn vào phía trong kia, không biết họ đang ở đây làm gì. Nhưng tôi không còn cảm thấy sợ hãi nữa. Nhận thấy có vài người lính đang nhìn tôi, tôi tránh đi, mắt nhìn lệch về phía xa hơn, trong chỗ có cụm khói đen bay.

Có một người lính bước tới hướng về phía tôi, tôi cố tình lảng tránh làm như không thấy, người lính dừng chân lại cách tôi vài bước. Người lính im lặng, tôi cũng còn nhìn về cụm khói đen bay. Tôi đứng lên vừa nhủ thầm chắc bây giờ yên rồi, mình có thể đi trở lại đến xóm nhà dân hướng về phía đò Mỹ Thuận được rồi. Cúi nhìn xuống hai bàn chân dơ bẩn của tôi, hình như nó bị sưng thì phải. Nhớ lại đôi guốc mộc, nhìn vào túi xách. Ôi, đôi guốc mộc của tôi bị rớt mất từ lúc nào mà tôi không hay cả luôn mấy gói trà nữa, chắc tại tôi chất đầy quá, lúc chạy không giữ được. Tôi dợm bước đi ngược lại chỗ hồi nãy để hướng về phía trước và sẵn dịp tìm đôi guốc. Không thể nào ở đây được, tôi phải đi đến đó. Có vài cánh nhạn bay là đà trên mặt ruộng. Mặt trời đỏ ói còn nằm ở góc trời. Chiều xuống chậm như muốn chờ trận đánh ở trong kia kết thúc. Cụm khói đen vẫn còn bay lên.

- Cô kia, cô đang đi đâu vậy, cô phải đi trở lại.

Người lính đang ở gần phía bên tôi chợt nói lớn tiếng như là la tôi. Tôi nói, chiều tối rồi tôi đi về làng Giáo Đức có cô của tôi, tôi sẽ nghỉ đêm ở đấy.

- Cô nói gì, bộ cô muốn chết hả? Chiếc xe đò cô đi đang ở đâu, cô lên đó mà trở về, tất cả xe phải đi ngược trở lại không ai chạy về đó được đâu.

- Tôi đi bộ về đó mà.

- Tôi nói không được, cô đừng cãi lời tôi.

- Tôi đi theo họ chớ đâu phải đi một mình, có nhà dân phía trên kia mà.

Người lính bước tới đứng trước mặt tôi, mặt mày tôi lấm bụi dơ, người lính cũng vậy có sạch hơn gì tôi, chỉ có điều tóc người lính được giấu dưới cái nón sắt, còn tóc tôi thì rối bay dưới ánh trời chiều. Người lính sình bùn vướng lên đầy trên đôi giày trận, còn tôi chân đất nặng bụi đường vương. Người lính im lặng nhìn tôi, cảm thấy bối rối trước cái nhìn của người lính mặt đồ bông, tôi nhìn xuống đôi chân tôi, rồi buột miệng nói:

- Tôi muốn đi trở lại khúc đường hồi nãy để tìm đôi guốc của tôi.

Nói xong tự thấy mình sao mà vô duyên quá đi thôi. Chỗ giặc giã, lính tráng, tiếng súng đùng đùng ở trong kia, mà đem chuyện mất đôi guốc của tôi ra nói. Sao mà tôi vô duyên quá vậy không biết nữa.

- Cô đừng tiếc đôi guốc, cô lên xe quay về Trung Lương, à không, về Mỹ Tho, ở đó vùng tỉnh lỵ an toàn hơn, chớ giờ này trở lại Saigon không kịp đâu.

- Sao anh biết tôi từ Sàigòn xuống?

Người lính nhìn tôi, rồi nhìn vào đám khói đen còn bay trong kia, rồi lại nhìn tôi, không trả lời.

Những chiếc xe đò đã bắt đầu kêu gọi hành khách của mình ai muốn trở lại hãy lên xe họ sẽ chở về Mỹ Tho ngủ đêm tại đó. Đang tần ngần chưa quyết định, ông lính nắm tay tôi lôi ngược về phía sau hỏi:

- Chiếc xe nào đâu, lên xe mau đi.

Ông này ngang tàng thiệt, đẩy tôi lên xe rồi nói với bác tài, bác tài đưa cô ấy về khu gần bến xe Mỹ Tho dùm tôi, sáng mai tôi sẽ gặp bác. Rồi ông lính quay qua tôi nói...

- Em lên xe về Mỹ Tho đi, nếu tôi còn sống qua trận đêm nay, sáng ngày mai tôi sẽ đến tìm em...

Tôi không cưỡng lại được cái kéo mạnh tay của hắn gần như là hất tôi lên xe. Tôi có biết hắn là ai đâu, tự dưng dùng võ lực với tôi, làm bác tài và mọi người trên xe nhìn tôi. Tại sao hắn ăn hiếp tôi. Tôi yếu đuối quá, rơm rớm nước mắt. Hắn còn đứng dưới đường nhìn lên tôi, tránh đôi mắt hắn, nhất định, không để hắn thấy mắt tôi ướt và cũng chẳng thèm nhìn hắn làm gì. Gần một nửa số khách ở lại, còn lại những người từ từ bước lên xe. Không biết hắn nghĩ gì mà lại bước lên, ngồi xuống kế bên tôi, hắn nhìn tôi im lặng, cái anh chàng này lạ thật. Nhìn tôi, im lặng không nói, mà hễ mở miệng nói là như la. Chỉ có một câu nghe như là nói của hắn... còn lại bao nhiêu như ra lệnh và la mà thôi... Tôi không thèm nhớ tới câu nói của hắn làm chi. Bác tài nói,

- Còn ai đi trở lại nữa không, xe chạy ngheng.

Tôi tức mình quay qua bên nhìn hắn, muốn nhìn hắn thật kỹ, muốn thấy mặt mày hắn như thế nào nhưng gương mặt hắn bị chiếc nón sắt che đi nhiều, chỉ thấy hắn có đôi mắt buồn, tôi nao lòng. Tôi hỏi hắn tại sao hắn ăn hiếp tôi quá vậy. Hắn cũng còn đang nhìn tôi, không trả lời, hắn bước xuống xe. Hắn còn đứng đó, chỉ nhìn tôi, không nói hay vẫy tay chào, tôi cũng nhìn hắn. Tôi có biết hắn là ai đâu.

Các xe đò tấp nập về bến xe Mỹ Tho. Bác tài ngừng xe trước một khách sạn nói với hành khách bà con cô bác vào trong này ngủ qua đêm sáng ngày mai sẽ trở lại Sàigòn. Có nhiều người ngủ dọc bên ngoài hoặc bến xe. Tôi cùng chia tiền phòng với một chị ngồi kế bên đi thăm chồng bị thương trận đang nằm trong bệnh viện ở Cần Thơ. Lần đầu tỉên đến Mỹ Tho trong đêm tối, tôi không nhận ra bộ mặt tỉnh lỵ này như thế nào. Cũng đang có đánh nhau ở gần đâu đây, nghe sao gần quá, tiếng súng nổ nghe vang dội tôi không thể nào ngủ được. Có tiếng đạn pháo kích nổ như gần bên, rồi tiếng pháo của bên này bắn trả lại, nếu nó pháo vào ngay tôi chắc xác của tôi có ai biết là ai đâu mà nhìn nhận. Không ngủ được, đứng lên vén màn cửa sổ nhìn ra ngoài, hỏa châu sáng rực một trời, ánh sáng chiếu dội trên mặt nước, vậy là khách sạn nằm gần bờ sông, tôi đoán như thế. Nhớ lại lúc chiều, nhớ lại anh chàng... nhớ đôi mắt buồn... dầu sao cũng cầu mong anh chàng được bình yên. Chị cùng phòng cũng không ngủ được, chị nói hơn hai giờ sáng rồi mà còn nghe họ đánh nhau gần quá chị cũng lo sợ như tôi. Tôi nói, ngoài Sàigòn ra, hình như chỗ nào cũng có giặc. Chị nói, bởi vậy tôi không đi theo chồng, vì đi theo cũng vậy thôi, ảnh có ở nhà đâu, đi đánh trận liên miên. Rồi chị gạ chuyện hỏi... ông quan hồi chiều là người thân của cô như thế nào? Tôi nói, tôi có quen ông ấy đâu, tự dưng lôi tôi bảo phải lên xe đi ngược về, người gì mà ngang tàng quá. Chị ta cười nói, mấy ông lính là như vậy đó, mà tui thấy coi bộ ông quan đó có vẻ thích cô lắm, có vẻ lo cho cô quá. Tôi hỏi, làm sao chị biết ông đó thích tôi. Chị nói, tôi thấy cách ổng nhìn cô, như là thích cô lắm vậy đó mà. Hứ, thích tôi mà nói năng với tôi như vậy à, còn coi tôi như con nít vậy sao. Rồi với gịong đều đều chị kể về chị, kể về chồng chị... Tôi thiếp dần... tôi thấy cụm khói đen bay lên... tôi thấy trực thăng... tôi thấy đôi guốc mộc... tôi thấy người lính mặc đồ bông... nếu tôi còn sống qua trận đêm nay... tôi thấy người lính im lặng nhìn tôi...

Bác tài nói:

doi guoc moc 2- Bà con có ăn sáng thì qua bên tiệm ăn đi, khoảng gần hai giờ sau trở lại chớ bây giở khởi hành sớm trên đường về Sàigòn không chắc được an ninh. Tôi hỏi:

- Tiệm giày guốc chắc chưa mở cửa hả bác?

- Chưa đâu cô hai. Vả lại đâu có ở gần đây đâu.

Vào quán ăn gần đó gọi tô mì hoành thánh cho dễ nuốt mặc dù bụng không có gì từ ngày hôm qua nhưng không muốn ăn gì cả. Vậy là tôi sẽ đi chân đất về Sàigòn, tôi nhớ đôi guốc mộc của tôi quá. Ăn xong, ngồi nhìn ra ngoài quán tiếng ồn ào của xe chạy, người đến càng nhiều thêm, sinh hoạt trông vẻ bình thường, hình như mọi người quên hết những tiếng nổ lớn, quên có một trận đánh nhau gần đâu đây chỉ mới cách trước đây vài giờ. Còn chờ hơn một giờ nữa mới lên xe.

Một người lính mặc đồ bông bước vào quán, tôi nhận ra ngay qua hình dáng anh chàng chỉ khác là chiếc nón sắt ngày hôm qua được thay vào chiếc mũ nâu, cũng gọn gàng trong bộ phục bông, giày không có bết sình. Còn tôi với quần áo khác nhưng vẫn còn đang chân đất.

- Chào em, tối đêm qua có ngủ ngon không cô bé?

- Cám ơn anh, tôi ngủ thiếp được một chút.

- Tôi mới vừa về, tắm rửa thay quần áo sạch sẽ đến trình diện cô bé, chắc hồi chiều qua em giận và thấy ghét tôi lắm phải không?

- Tôi chưa thấy thương được cho nên chưa thấy ghét.

- Xin lỗi nghen, bởi vì lúc đó không hiểu sao tôi cảm thấy lo sợ cho em, tôi sợ những điều không hay xảy đến cho em. Muốn em rời khỏi nơi đó cho dù không biết tôi có còn gặp lại em không. Tôi có cử chỉ hơi quá lố.

- Cũng may là anh chưa la lên “Biệt Động Quân, Sát!”, chớ có thì tôi tiêu mạng mất rồi, phải không ông quan? (tôi bắc chước chị ngủ cùng phòng với tôi đêm qua gọi hắn là ông quan).

Tôi nhìn người lính kỹ hơn: nước da rám nắng, chiếc mũi hơi cao, có vẻ nghiêm nghị nhưng trông dễ mến, khác với chiều ngày hôm qua. Có lẽ người lính nào khi sắp ra trận chắc gương mặt họ trông rất khó ưa. Tôi hỏi,

- Hồi tối rồi ông quan có đánh trong trận ở chỗ khói đen bay đó hả?

- Ừ, cũng không lớn lắm. Cái toán đó tụi nó thường về bắt dân ra đường đắp mô, giựt mìn, rồi chạy vào trong đấy. Diệt xong bọn nó rồi.

Rồi anh nói tiếp:

- À, chiều hôm qua, sau khi em đi rồi, tôi cùng với một anh lính đi ngược trở lại không xa thì thấy nó, tôi tin nó là đôi guốc của em, tôi mang nó về lại cho em.

Vừa nói anh vừa mở banh gói giấy báo ra, tôi thấy đúng là đôi guốc mộc của tôi. Tôi mừng quá reo vui lên:

doi guoc moc 3- Đúng rồi, đôi guốc mộc của tôi.

Tôi cười, anh im lặng nhìn tôi.

- Anh gọi gì ăn đi, tôi mời anh.

- Tôi chỉ uống cà phê thôi.

- Tôi quên chưa cám ơn anh. Cám ơn anh nhiều nghen. Sao anh tốt với tôi quá vậy há. Anh đang đánh giặc mà.

- Chưa, lúc đó chưa vào trận mới gặp được em, tôi không để em đi tới Giáo Đức được, tôi không muốn mất em. Đêm rồi tôi chỉ sợ tôi chết, tôi sẽ tiếc không được gặp lại em dù một lần cũng được.

- Ngộ hén, có phải đó là những câu tán gái không hà?

- Không, tôi thấy một bức tranh rất là đẹp hiện ra, tôi không tán em đâu chỉ nói lên cảm nghĩ của tôi thôi... Biết mai này mình có còn... đời lính mà.

Trước khi đưa tôi lên xe anh có đề nghị với tôi rằng lần đi phép tới anh sẽ về Sàigòn có người anh của anh ở đấy. Tôi sẽ mặc lại bộ đồ hôm qua, mang đôi guốc mộc cùng anh đi dạo phố lần đầu. Tôi sung sướng nhận lời. Nhìn vào mắt anh tôi nói... em chờ anh. Lần đầu tiên tôi thấy anh cười.

Xe bắt đầu chuyển bánh. Người lính mũ nâu vẫn còn đứng nhìn theo tôi với ánh mắt buồn, không vẫy tay chào. Tôi cố ngoái nhìn lại thu hình bóng anh vào trong tôi.

Trong vòng hơn tháng tôi nhận được ba lần thư với vài dòng ngắn gọn của anh: ...Anh đang đợi cấp trên ký giấy khi thấy tình hình lắng dịu hơn. Nhưng mà chỉ thấy trận chiến càng ngày càng gay go thêm, tụi nó cứ tràn vào anh phải đi lên về phía những mặt trận ở trên chớ không thường ở dưới này nữa. Có những lúc đánh nhau không xa Sàigòn mấy, thấy như gần bên em mà không gặp em được! Anh thèm về Sàigòn quá, nhất là mong được gặp lại em. Mong em còn nhớ anh chớ đừng buồn. Gửi đến anh nụ cười của em, ngheng em. Anh rất thích thấy em cười. Anh có một món quà nho nhỏ hoàn thành từ trong tim óc của anh tạo nên nó. Anh sẽ đem về tặng em từ lần về phép tới. Nhớ em nhiều. Chờ anh nghe cưng.

Hơn hai mươi ngày qua rồi không nhận được thư anh, không làm sao biết tin tức về anh và tôi cảm thấy hình như có điều gì bất an trong lòng. Nếu anh đang bận hành quân, tôi không gặp cũng được, miễn sao tôi phải biết tin về anh. Tôi sẽ đi thăm anh.

Tiếng người lính nói, ...Khi ông thầy viết thư này xong thì giấy phép của ông thầy cũng vừa có, ông thầy vui lắm nên ông thầy viết thêm vài lời ở ngoài bì thư báo tin sẽ về Sàigòn. Ông biểu tui đem gửi, nhưng sáng hôm đó tui chưa kịp đi gửi thì có lệnh hành quân khẩn cấp. Xong trận rồi, trên đường về tui thấy ông thầy vui khoe với bạn bè sắp đi phép về thăm người yêu ở Sàigòn. Ông thầy thấy mấy người cùng trường cùng khóa, ông thầy nhảy lên xe tăng ngồi với họ bị tụi nó nấp ở trong bắn sẻ ra trúng ngay ông thầy cùng với một ông khác nữa ngã liền tại chỗ. Ông thầy đi cách đây mười hai ngày, có anh của ông thầy từ Sàigòn xuống và có người chú ở Long An không xa mấy, đem ông thầy về đấy mai táng. Nghe nói ông thầy mồ côi từ thuở nhỏ chỉ còn lại hai người thân đó thôi. Tui định hôm nào tui sẽ mang những thứ này đem gửi cho cô.

Trời ơi, vậy mà tôi có hay biết gì đâu! Tôi thấy trời đất như quay cuồng... tôi không còn nghe được người lính nói gì thêm nữa. Anh bảo tôi chờ anh mà, sao anh lại bỏ đi vậy, hở anh?

Ngoài lá thư anh báo cho tôi biết ngày phép về Sàigòn sắp tới còn có một bức tranh nhỏ do chính tay anh vẽ một cảnh hoàng hôn, có một cụm khói đen bay lên, có một cánh chim lẻ bạn, một người lính Biệt Động Quân đội nón sắt đang nhìn về cô gái đi chân đất với làn tóc rối bay dưới ánh trời chiều và có hình đôi guốc mộc nằm lăn lóc trên con đường.

ĐẶC SAN ĐA HIỆU ONLINE
NHIỆM KỲ 2010 - 2012


86

87

88

89

90

91
Đa Hiệu 91 - Countdown

TIN NÓNG

VN phản đối LHQ cấp quy chế tỵ nạn cho giáo dân Cồn Dầu

Bộ Ngọai giao Việt Nam hôm thứ Tư 1-9-2010 cho biết sẽ phản đối mọi quyết định của Liên Hiệp Quốc cấp quy chế tỵ nạn chính trị cho số giáo dân Cồn Dầu chạy sang Thái Lan lánh nạn sau cuộc đàn áp đẫm máu của công an hồi tháng 5.

RFA

Những người dân Cồn Dầu đang lánh nạn tại Thái Lan phải sống lén lút. (theo yêu cầu vì an toàn chưa tiện để thấy mặt) RFA

34 giáo dân Công Giáo này đã tới thủ đô Bangkok của Thái Lan và xin Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc UNHCR cho họ được hưởng quy chế tỵ nạn chính trị. Hiện họ rất lo ngại cho sự an tòan của thân nhân họ còn ở lại quê nhà.

Số người lánh nạn vừa nói thuộc Giáo xứ Cồn Dầu ở gần thành phố Đà Nẵng, nơi công an đã đánh trọng thương và rồi bắt giam hàng chục người Công Giáo sau cuộc đàn áp ấy.

Nhưng giới cầm quyền cho rằng trường hợp xảy ra tại Giáo xứ Cồn Dầu là hòan tòan không liên quan gì tới tôn giáo. Phát ngôn viên của Bộ Ngọai giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga, lên tiếng như vậy với Thông tấn xã Đức Quốc DPA hôm thứ Tư 1-9.

Theo viên chức này thì không có chuyện đàn áp tôn giáo hay chính trị tại Việt Nam, do đó, “mọi quyết định công nhận công dân Việt Nam là người tỵ nạn chính trị là vô căn cứ và không thích hợp”.

Chính phủ Việt Nam cho rằng cuộc xung đột ở Cồn Dầu bắt nguồn từ việc tranh chấp đất đai, khi người dân Cồn Dầu tìm cách cử hành một đám tang ở khu nghĩa trang Công Giáo vốn bị chính quyền quy họach di dời để biến nơi này thành khu du lịch sinh thái Hòa Xuân.

Hồi tháng 8 vừa rồi, thân nhân của giáo dân Cồn Dầu lên tiếng trước một Ủy ban của Quốc Hội Hoa Kỳ rằng công an đã đánh đập người thân họ, và một giáo dân, ông Nguyễn Thành Năm, bị công an đánh chết trong đồn.

Khi lên tiếng với Đài Á Châu Tự Do mới đây, những người tỵ nạn ở Thái Lan cho biết tất cả đều muốn được tự do hành đạo. Và họ phải rời bỏ đất nước vì bị đàn áp, đe dọa.

Hiện họ rất lo ngại cho sự an tòan của thân nhân còn ở lại quê nhà, nơi, theo lời một người yêu cầu ẩn danh kể lại, công an thường xuyên theo dõi và kiểm tra hộ khẩu của người thân.

Vẫn theo những giáo dân tỵ nạn ấy, hiện họ không thấy an tòan trên đất Thái trong khi chờ Cao ủy Tỵ nạn quyết định về quy chế tỵ nạn cho họ, vì họ sợ bị cảnh sát Thái bắt và đưa trở lại Việt Nam.

Một phụ nữ trong nhóm cho Đài Á Châu Tự Do biết là trong 3-4 tháng nay nương náu ở xứ Chùa Vàng, nhóm giáo dân này phải đổi chỗ ở tới 7-8 lần vì lý do an tòan.




Trong những năm gần đây, đã xảy ra nhiều cuộc đàn áp của giới cầm quyền đối với tu sĩ và giáo dân Công Giáo, phần lớn bắt nguồn từ việc đất đai của Giáo Hội bị cưỡng chiếm.

Tại Hà Nội, hồi năm 2008 đã xảy ra nhiều tháng biểu tình của giáo dân tại Tòa Khâm Sứ và Giáo Xứ Thái Hà đòi lại đất của Giáo Hội mà Hà Nội cưỡng chiếm hồi thập niên 1960. Những vụ chống đối khác diễn ra tại Hà Tây và Đà Nẵng.

Việt Nam là quốc gia có số giáo dân Công gáio chừng 6 triệu người, nhiều thứ nhì tại Á Châu chỉ sau Philippines.

Theo dòng thời sự:

DẬY MÀ ĐI HỠI ĐỒNG BÀO ƠI

CẢNH SÁT DÙNG VŨ LỰC CƯỚP XÁC TẠI CỒN DẦU