|
Đôi Guốc Mộc
- Giải Ba truyện ngắn - Giải Sáng Tác Đa Hiệu 89
Sáng nay, trước khi lên đường tôi sửa soạn cho tôi
gọn gàng trong chiếc quần tây màu nâu hơi sậm màu cho bụi đường có lấm
vào không dễ thấy, áo tay ngắn màu hồng nhạt hạp với mùa hè đang oi bức,
tóc cột lại phía sau để gió không có dịp đùa với tóc trước mặt để mắt
có thể chiêm ngưỡng phong cảnh miền quê cùng theo với mùi hương của lúa
trên đường về quê tôi. Một cái túi nhỏ đựng quần áo, một cái túi nhỏ
khác đầy ắp trà bánh, và không quên mua vài ba ổ bánh mì tại bến xe gói
kín lại cẩn thận chất lên túi. Những người ở miệt tỉnh rất thích có quà
là bánh mì Sàigòn.
Xe vừa qua khỏi Phú Lâm là hưởng ngay mùi gió đồng
bay vào mũi. Những lùm cây to chỉ còn ở trong xa tầm mắt để giữ an ninh
cho con lộ ở hai bên đường, cho nên có khoảng trống bao la làm gió càng
lộng thêm lên. Cánh đồng lúa vàng mênh mông, giống nhau chạy ngút ngàn
có gì lạ đâu mà ngắm, quen rồi, mà vẫn thích ngắm. Miền đồng bằng sông
Cửu Long không có nhiều hoa thơm cỏ lạ, không có núi đồi hùng vĩ hay
thung lũng hoa tình, chỉ có màu xanh của cây trái và màu vàng của lúa
chín. Nhưng nơi đấy là huyết mạch là nguồn chính nuôi sống dân miền Nam.
Hàng ngày có hàng trăm chuyến xe từ dưới đổ lên chở đầy hàng hóa trên
con quốc lộ huyết mạch này. Bởi vì sự quan trọng của Quốc Lộ 4, cho nên
bọn người từ phía bên kia lợi dụng những đêm tối trời bắt dân ở trong
làng ra đắp mô, gài mìn để giết hại, để cản trở, ngăn chận nguồn sống
của người dân miền Nam. Áp lực, uy hiếp, dùng người dân bên này giết hại
dân bên này là chính sách của bọn bên kia. Sáng ra, cũng chính người
dân quê đó đi phá mô qua lệnh của mấy ông bên này. Tội nghiệp cho người
dân quê bên này, một cổ mà bị hai tròng.
Xe qua khỏi Trung Lương, tôi bắt đầu nhủ thầm không
biết hôm nay có bị kẹt bắc, có bị chờ lâu hay không nữa. Nếu gặp đoàn
convoy là kể như phải bị chờ lâu, họ sẽ được ưu tiên lên đò Mỹ Thuận
trước. Mấy lúc gần đây có đoàn xe nhà binh di chuyển thường xuyên hơn,
có khi mình phải đợi gần nửa ngày mới tới phiên mình, nghe bác tài xế
nói như vậy.
Không biết việc gì ở phía trước mà chiếc xe chạy
chậm lại và ngừng hẳn. Hành khách trên xe lao nhao, gần sắp tới Giáo Đức
rồi mà không lẽ bị kẹt bắc dài dữ vậy sao... cũng có lúc xe bị kẹt bắc
tới Giáo Đức là dài lắm rồi đó... mỗi người một câu. Ngồi trên xe nếu để
ý sẽ thấy từ phía trước, bên trong xa... sau những cánh đồng... có chùm
khói đen bay lên. Tin chuyền miệng... đường bị đắp mô, bị giựt mìn...
một khúc đường bị cắt từ hồi khuya... người ta đang còn phá mô, đang sửa
lại đường. Một hành khách trên xe nói, mấy ông bên kia lúc rày về phá
đường hoài, mình ở trển gạo lên giá, ở dưới này gạo cá ăn không hết ứ
đầy ra.
- Im lặng đi bà con, mới nghe được tiếng súng nổ.
Họ đang đánh nhau kìa. Có một mặt trận ở chỗ lùm cây to từ trong xa kìa!
Đó, thấy không? Mấy ổng đang đánh nhau ở chỗ đó. Kìa, có ba chiếc trực
thăng đang quần trên trời bay vòng vòng ở trên chỗ đó, có thấy không?
Đó, trực thăng đang chúi xuống bắn đó... đó! Trong kia thì đánh nhau
chết chóc, ngoài này đường bị giựt mìn đắp mô, thật khổ quá đi.
Chắc phải chờ lâu lắm, mọi người xuống xe, tôi
cũng xuống xe, đưa mắt nhìn quanh kỹ hơn. Có vài mái tranh, có vài cây
mọc thưa lá, có hơn mươi người lính Nghĩa Quân có lẽ đang tạm nghỉ quân,
bộ quân phục họ đang mặc dính đầy bùn sình, gương mặt người lính nào
cũng hiện lên vẻ mệt mỏi. Có vài người mắc võng nằm ngủ say như chết mặc
kệ tiếng xe ngừng, tiếng ồn ào từ đám hành khách không làm phá giấc ngủ
của họ. Mặc cho tiếng súng nổ gần trong kia, mặc cho cụm khói đen trong
kia vẫn còn bay.
Đám hành khách đi lên phía trước hướng về Giáo Đức,
tôi cũng đi về phía đó không quên mang theo hành lý của mình. Tôi có
người cô bà con đang sinh sống ở Giáo Đức, tôi sẽ ngủ nhờ tại đó đêm nay
nếu qua đò không kịp. Đoàn người đi bộ cũng khá đông, họ nhanh nhẹn và
dường như sự việc xảy ra quen thuộc với họ. Nảy giờ đi bỏ lại chỉếc xe
đò của mình mất hút lại phía sau rồi. Còn tôi, sau một quãng ngắn thấy
mình bị bỏ lại đàng sau là tôi bước như chạy để bắt cho kịp với họ. Muốn
đi nhanh, khó cho tôi quá. Có gì đâu, chỉ vì đôi guốc. Đôi guốc mộc của
tôi.
Đôi guốc tôi mới mang lần này là lần thứ nhì, tôi
thích nó lắm, nó màu nâu sậm với quai cũng màu nâu có điểm lấm tấm vài
hoa màu ngà nho nhỏ, bàn chân trắng của tôi mang nó vào trông rất là dễ
thương, tôi tự ngắm và tự khen như vậy. Đừng đổ thừa nó có gót cao, chỉ
có năm phân thôi chớ mấy. Sắp tới quận rồi bà con ơi, có vài mái nhà của
dân từ trong xóm Giáo Đức bắt đầu hiện ra xa xa kìa. Đang đi thì bỗng
đâu có một tràng súng nổ liên hồi gần bên tai, bà con nhốn nháo, mọi
người chạy lùi trở lại. Tôi có mang guốc mà chạy bao giờ, lỡ trật chân
không đi được chỉ có nước bỏ xác tại đây. Mấy ổ bánh mì mang theo trong
túi xách bị rơi mất hồi nào, mặc kệ, có chỗ để thế vào đấy cho đôi guốc
mộc của tôi. Trời ơi, hồi nào tới giờ tôi có chạy giặc bao giờ đâu. Tôi ở
Sàigòn mà! Nhớ hồi năm Mậu Thân lộn xộn vậy mà xóm tôi bình yên, giặc
có tới được xóm tôi đâu mà tôi biết chạy giặc. Mang guốc chạy không
được, bỏ guốc ra, chạy chân đất, bị đau chân gần chết cũng phải chịu,
chạy phải lựa chỗ nào thấy đất nhám nhám là tránh ra.
Nghĩ cũng lạ, sợ hãi là bản tính của con người, vậy
mà khi không còn nghe tiếng súng gần bên nữa mọi người không ai bảo ai
đều dừng lại, không muốn lui lại nữa chỉ muốn đi tới phía trước, hướng
quận Giáo Đức. Tới sông Tiền Giang qua đò Mỹ Thuận được rồi, mọi trở
ngại khác đều là nhỏ nhoi đối với họ. Tôi cũng dừng lại ngồi bệt xuống
đất thở dốc, không đói nhưng khát khô cả cổ họng; mặt mày bơ phờ, áo
quần bụi bậm, tóc rối gió bay. Chỗ tôi ngồi nhìn ngang qua trong xa chỗ
có cụm khói đen, nhìn gần tôi hơn vài thước thấy có vài chiếc quân xa
với mấy cái bình máy móc và cần câu. Có một toán quân mặc đồ bông bên
vai có hình con cọp nhe mấy cái răng nanh, tôi biết đấy là phù hiệu của
lính Biệt Động Quân. Tôi không thấy họ đang đánh nhau, không bắn vào
phía trong kia, không biết họ đang ở đây làm gì. Nhưng tôi không còn cảm
thấy sợ hãi nữa. Nhận thấy có vài người lính đang nhìn tôi, tôi tránh
đi, mắt nhìn lệch về phía xa hơn, trong chỗ có cụm khói đen bay.
Có một người lính bước tới hướng về phía tôi, tôi
cố tình lảng tránh làm như không thấy, người lính dừng chân lại cách tôi
vài bước. Người lính im lặng, tôi cũng còn nhìn về cụm khói đen bay.
Tôi đứng lên vừa nhủ thầm chắc bây giờ yên rồi, mình có thể đi trở lại
đến xóm nhà dân hướng về phía đò Mỹ Thuận được rồi. Cúi nhìn xuống hai
bàn chân dơ bẩn của tôi, hình như nó bị sưng thì phải. Nhớ lại đôi guốc
mộc, nhìn vào túi xách. Ôi, đôi guốc mộc của tôi bị rớt mất từ lúc nào
mà tôi không hay cả luôn mấy gói trà nữa, chắc tại tôi chất đầy quá, lúc
chạy không giữ được. Tôi dợm bước đi ngược lại chỗ hồi nãy để hướng về
phía trước và sẵn dịp tìm đôi guốc. Không thể nào ở đây được, tôi phải
đi đến đó. Có vài cánh nhạn bay là đà trên mặt ruộng. Mặt trời đỏ ói còn
nằm ở góc trời. Chiều xuống chậm như muốn chờ trận đánh ở trong kia kết
thúc. Cụm khói đen vẫn còn bay lên.
- Cô kia, cô đang đi đâu vậy, cô phải đi trở lại.
Người lính đang ở gần phía bên tôi chợt nói lớn
tiếng như là la tôi. Tôi nói, chiều tối rồi tôi đi về làng Giáo Đức có
cô của tôi, tôi sẽ nghỉ đêm ở đấy.
- Cô nói gì, bộ cô muốn chết hả? Chiếc xe đò cô đi
đang ở đâu, cô lên đó mà trở về, tất cả xe phải đi ngược trở lại không
ai chạy về đó được đâu.
- Tôi đi bộ về đó mà.
- Tôi nói không được, cô đừng cãi lời tôi.
- Tôi đi theo họ chớ đâu phải đi một mình, có nhà
dân phía trên kia mà.
Người lính bước tới đứng trước mặt tôi, mặt mày tôi
lấm bụi dơ, người lính cũng vậy có sạch hơn gì tôi, chỉ có điều tóc
người lính được giấu dưới cái nón sắt, còn tóc tôi thì rối bay dưới ánh
trời chiều. Người lính sình bùn vướng lên đầy trên đôi giày trận, còn
tôi chân đất nặng bụi đường vương. Người lính im lặng nhìn tôi, cảm thấy
bối rối trước cái nhìn của người lính mặt đồ bông, tôi nhìn xuống đôi
chân tôi, rồi buột miệng nói:
- Tôi muốn đi trở lại khúc đường hồi nãy để tìm đôi
guốc của tôi.
Nói xong tự thấy mình sao mà vô duyên quá đi thôi.
Chỗ giặc giã, lính tráng, tiếng súng đùng đùng ở trong kia, mà đem
chuyện mất đôi guốc của tôi ra nói. Sao mà tôi vô duyên quá vậy không
biết nữa.
- Cô đừng tiếc đôi guốc, cô lên xe quay về Trung
Lương, à không, về Mỹ Tho, ở đó vùng tỉnh lỵ an toàn hơn, chớ giờ này
trở lại Saigon không kịp đâu.
- Sao anh biết tôi từ Sàigòn xuống?
Người lính nhìn tôi, rồi nhìn vào đám khói đen còn
bay trong kia, rồi lại nhìn tôi, không trả lời.
Những chiếc xe đò đã bắt đầu kêu gọi hành khách của
mình ai muốn trở lại hãy lên xe họ sẽ chở về Mỹ Tho ngủ đêm tại đó.
Đang tần ngần chưa quyết định, ông lính nắm tay tôi lôi ngược về phía
sau hỏi:
- Chiếc xe nào đâu, lên xe mau đi.
Ông này ngang tàng thiệt, đẩy tôi lên xe rồi nói
với bác tài, bác tài đưa cô ấy về khu gần bến xe Mỹ Tho dùm tôi, sáng
mai tôi sẽ gặp bác. Rồi ông lính quay qua tôi nói...
- Em lên xe về Mỹ Tho đi, nếu tôi còn sống qua trận
đêm nay, sáng ngày mai tôi sẽ đến tìm em...
Tôi không cưỡng lại được cái kéo mạnh tay của hắn
gần như là hất tôi lên xe. Tôi có biết hắn là ai đâu, tự dưng dùng võ
lực với tôi, làm bác tài và mọi người trên xe nhìn tôi. Tại sao hắn ăn
hiếp tôi. Tôi yếu đuối quá, rơm rớm nước mắt. Hắn còn đứng dưới đường
nhìn lên tôi, tránh đôi mắt hắn, nhất định, không để hắn thấy mắt tôi
ướt và cũng chẳng thèm nhìn hắn làm gì. Gần một nửa số khách ở lại, còn
lại những người từ từ bước lên xe. Không biết hắn nghĩ gì mà lại bước
lên, ngồi xuống kế bên tôi, hắn nhìn tôi im lặng, cái anh chàng này lạ
thật. Nhìn tôi, im lặng không nói, mà hễ mở miệng nói là như la. Chỉ có
một câu nghe như là nói của hắn... còn lại bao nhiêu như ra lệnh và la
mà thôi... Tôi không thèm nhớ tới câu nói của hắn làm chi. Bác tài nói,
- Còn ai đi trở lại nữa không, xe chạy ngheng.
Tôi tức mình quay qua bên nhìn hắn, muốn nhìn hắn
thật kỹ, muốn thấy mặt mày hắn như thế nào nhưng gương mặt hắn bị chiếc
nón sắt che đi nhiều, chỉ thấy hắn có đôi mắt buồn, tôi nao lòng. Tôi
hỏi hắn tại sao hắn ăn hiếp tôi quá vậy. Hắn cũng còn đang nhìn tôi,
không trả lời, hắn bước xuống xe. Hắn còn đứng đó, chỉ nhìn tôi, không
nói hay vẫy tay chào, tôi cũng nhìn hắn. Tôi có biết hắn là ai đâu.
Các xe đò tấp nập về bến xe Mỹ Tho. Bác tài ngừng
xe trước một khách sạn nói với hành khách bà con cô bác vào trong này
ngủ qua đêm sáng ngày mai sẽ trở lại Sàigòn. Có nhiều người ngủ dọc bên
ngoài hoặc bến xe. Tôi cùng chia tiền phòng với một chị ngồi kế bên đi
thăm chồng bị thương trận đang nằm trong bệnh viện ở Cần Thơ. Lần đầu
tỉên đến Mỹ Tho trong đêm tối, tôi không nhận ra bộ mặt tỉnh lỵ này như
thế nào. Cũng đang có đánh nhau ở gần đâu đây, nghe sao gần quá, tiếng
súng nổ nghe vang dội tôi không thể nào ngủ được. Có tiếng đạn pháo kích
nổ như gần bên, rồi tiếng pháo của bên này bắn trả lại, nếu nó pháo vào
ngay tôi chắc xác của tôi có ai biết là ai đâu mà nhìn nhận. Không ngủ
được, đứng lên vén màn cửa sổ nhìn ra ngoài, hỏa châu sáng rực một trời,
ánh sáng chiếu dội trên mặt nước, vậy là khách sạn nằm gần bờ sông, tôi
đoán như thế. Nhớ lại lúc chiều, nhớ lại anh chàng... nhớ đôi mắt
buồn... dầu sao cũng cầu mong anh chàng được bình yên. Chị cùng phòng
cũng không ngủ được, chị nói hơn hai giờ sáng rồi mà còn nghe họ đánh
nhau gần quá chị cũng lo sợ như tôi. Tôi nói, ngoài Sàigòn ra, hình như
chỗ nào cũng có giặc. Chị nói, bởi vậy tôi không đi theo chồng, vì đi
theo cũng vậy thôi, ảnh có ở nhà đâu, đi đánh trận liên miên. Rồi chị gạ
chuyện hỏi... ông quan hồi chiều là người thân của cô như thế nào? Tôi
nói, tôi có quen ông ấy đâu, tự dưng lôi tôi bảo phải lên xe đi ngược
về, người gì mà ngang tàng quá. Chị ta cười nói, mấy ông lính là như vậy
đó, mà tui thấy coi bộ ông quan đó có vẻ thích cô lắm, có vẻ lo cho cô
quá. Tôi hỏi, làm sao chị biết ông đó thích tôi. Chị nói, tôi thấy cách
ổng nhìn cô, như là thích cô lắm vậy đó mà. Hứ, thích tôi mà nói năng
với tôi như vậy à, còn coi tôi như con nít vậy sao. Rồi với gịong đều
đều chị kể về chị, kể về chồng chị... Tôi thiếp dần... tôi thấy cụm khói
đen bay lên... tôi thấy trực thăng... tôi thấy đôi guốc mộc... tôi thấy
người lính mặc đồ bông... nếu tôi còn sống qua trận đêm nay... tôi thấy
người lính im lặng nhìn tôi...
Bác tài nói:
- Bà con có ăn sáng thì qua bên tiệm ăn đi, khoảng
gần hai giờ sau trở lại chớ bây giở khởi hành sớm trên đường về Sàigòn
không chắc được an ninh. Tôi hỏi:
- Tiệm giày guốc chắc chưa mở cửa hả bác?
- Chưa đâu cô hai. Vả lại đâu có ở gần đây đâu.
Vào quán ăn gần đó gọi tô mì hoành thánh cho dễ
nuốt mặc dù bụng không có gì từ ngày hôm qua nhưng không muốn ăn gì cả.
Vậy là tôi sẽ đi chân đất về Sàigòn, tôi nhớ đôi guốc mộc của tôi quá.
Ăn xong, ngồi nhìn ra ngoài quán tiếng ồn ào của xe chạy, người đến càng
nhiều thêm, sinh hoạt trông vẻ bình thường, hình như mọi người quên hết
những tiếng nổ lớn, quên có một trận đánh nhau gần đâu đây chỉ mới cách
trước đây vài giờ. Còn chờ hơn một giờ nữa mới lên xe.
Một người lính mặc đồ bông bước vào quán, tôi nhận
ra ngay qua hình dáng anh chàng chỉ khác là chiếc nón sắt ngày hôm qua
được thay vào chiếc mũ nâu, cũng gọn gàng trong bộ phục bông, giày không
có bết sình. Còn tôi với quần áo khác nhưng vẫn còn đang chân đất.
- Chào em, tối đêm qua có ngủ ngon không cô bé?
- Cám ơn anh, tôi ngủ thiếp được một chút.
- Tôi mới vừa về, tắm rửa thay quần áo sạch sẽ đến
trình diện cô bé, chắc hồi chiều qua em giận và thấy ghét tôi lắm phải
không?
- Tôi chưa thấy thương được cho nên chưa thấy ghét.
- Xin lỗi nghen, bởi vì lúc đó không hiểu sao tôi
cảm thấy lo sợ cho em, tôi sợ những điều không hay xảy đến cho em. Muốn
em rời khỏi nơi đó cho dù không biết tôi có còn gặp lại em không. Tôi có
cử chỉ hơi quá lố.
- Cũng may là anh chưa la lên “Biệt Động Quân,
Sát!”, chớ có thì tôi tiêu mạng mất rồi, phải không ông quan? (tôi bắc
chước chị ngủ cùng phòng với tôi đêm qua gọi hắn là ông quan).
Tôi nhìn người lính kỹ hơn: nước da rám nắng, chiếc
mũi hơi cao, có vẻ nghiêm nghị nhưng trông dễ mến, khác với chiều ngày
hôm qua. Có lẽ người lính nào khi sắp ra trận chắc gương mặt họ trông
rất khó ưa. Tôi hỏi,
- Hồi tối rồi ông quan có đánh trong trận ở chỗ
khói đen bay đó hả?
- Ừ, cũng không lớn lắm. Cái toán đó tụi nó thường
về bắt dân ra đường đắp mô, giựt mìn, rồi chạy vào trong đấy. Diệt xong
bọn nó rồi.
Rồi anh nói tiếp:
- À, chiều hôm qua, sau khi em đi rồi, tôi cùng với
một anh lính đi ngược trở lại không xa thì thấy nó, tôi tin nó là đôi
guốc của em, tôi mang nó về lại cho em.
Vừa nói anh vừa mở banh gói giấy báo ra, tôi thấy
đúng là đôi guốc mộc của tôi. Tôi mừng quá reo vui lên:
- Đúng rồi, đôi guốc mộc của tôi.
Tôi cười, anh im lặng nhìn tôi.
- Anh gọi gì ăn đi, tôi mời anh.
- Tôi chỉ uống cà phê thôi.
- Tôi quên chưa cám ơn anh. Cám ơn anh nhiều nghen.
Sao anh tốt với tôi quá vậy há. Anh đang đánh giặc mà.
- Chưa, lúc đó chưa vào trận mới gặp được em, tôi
không để em đi tới Giáo Đức được, tôi không muốn mất em. Đêm rồi tôi chỉ
sợ tôi chết, tôi sẽ tiếc không được gặp lại em dù một lần cũng được.
- Ngộ hén, có phải đó là những câu tán gái không
hà?
- Không, tôi thấy một bức tranh rất là đẹp hiện ra,
tôi không tán em đâu chỉ nói lên cảm nghĩ của tôi thôi... Biết mai này
mình có còn... đời lính mà.
Trước khi đưa tôi lên xe anh có đề nghị với tôi
rằng lần đi phép tới anh sẽ về Sàigòn có người anh của anh ở đấy. Tôi sẽ
mặc lại bộ đồ hôm qua, mang đôi guốc mộc cùng anh đi dạo phố lần đầu.
Tôi sung sướng nhận lời. Nhìn vào mắt anh tôi nói... em chờ anh. Lần đầu
tiên tôi thấy anh cười.
Xe bắt đầu chuyển bánh. Người lính mũ nâu vẫn còn
đứng nhìn theo tôi với ánh mắt buồn, không vẫy tay chào. Tôi cố ngoái
nhìn lại thu hình bóng anh vào trong tôi.
Trong vòng hơn tháng tôi nhận được ba lần thư với
vài dòng ngắn gọn của anh: ...Anh đang đợi cấp trên ký giấy khi thấy
tình hình lắng dịu hơn. Nhưng mà chỉ thấy trận chiến càng ngày càng gay
go thêm, tụi nó cứ tràn vào anh phải đi lên về phía những mặt trận ở
trên chớ không thường ở dưới này nữa. Có những lúc đánh nhau không xa
Sàigòn mấy, thấy như gần bên em mà không gặp em được! Anh thèm về Sàigòn
quá, nhất là mong được gặp lại em. Mong em còn nhớ anh chớ đừng buồn.
Gửi đến anh nụ cười của em, ngheng em. Anh rất thích thấy em cười. Anh
có một món quà nho nhỏ hoàn thành từ trong tim óc của anh tạo nên nó.
Anh sẽ đem về tặng em từ lần về phép tới. Nhớ em nhiều. Chờ anh nghe
cưng.
Hơn hai mươi ngày qua rồi không nhận được thư anh,
không làm sao biết tin tức về anh và tôi cảm thấy hình như có điều gì
bất an trong lòng. Nếu anh đang bận hành quân, tôi không gặp cũng được,
miễn sao tôi phải biết tin về anh. Tôi sẽ đi thăm anh.
Tiếng người lính nói, ...Khi ông thầy viết thư này
xong thì giấy phép của ông thầy cũng vừa có, ông thầy vui lắm nên ông
thầy viết thêm vài lời ở ngoài bì thư báo tin sẽ về Sàigòn. Ông biểu tui
đem gửi, nhưng sáng hôm đó tui chưa kịp đi gửi thì có lệnh hành quân
khẩn cấp. Xong trận rồi, trên đường về tui thấy ông thầy vui khoe với
bạn bè sắp đi phép về thăm người yêu ở Sàigòn. Ông thầy thấy mấy người
cùng trường cùng khóa, ông thầy nhảy lên xe tăng ngồi với họ bị tụi nó
nấp ở trong bắn sẻ ra trúng ngay ông thầy cùng với một ông khác nữa ngã
liền tại chỗ. Ông thầy đi cách đây mười hai ngày, có anh của ông thầy từ
Sàigòn xuống và có người chú ở Long An không xa mấy, đem ông thầy về
đấy mai táng. Nghe nói ông thầy mồ côi từ thuở nhỏ chỉ còn lại hai người
thân đó thôi. Tui định hôm nào tui sẽ mang những thứ này đem gửi cho
cô.
Trời ơi, vậy mà tôi có hay biết gì đâu! Tôi thấy
trời đất như quay cuồng... tôi không còn nghe được người lính nói gì
thêm nữa. Anh bảo tôi chờ anh mà, sao anh lại bỏ đi vậy, hở anh?
Ngoài lá thư anh báo cho tôi biết ngày phép về
Sàigòn sắp tới còn có một bức tranh nhỏ do chính tay anh vẽ một cảnh
hoàng hôn, có một cụm khói đen bay lên, có một cánh chim lẻ bạn, một
người lính Biệt Động Quân đội nón sắt đang nhìn về cô gái đi chân đất
với làn tóc rối bay dưới ánh trời chiều và có hình đôi guốc mộc nằm lăn
lóc trên con đường.
|