Vì nhu cầu thống nhất cách trình bày và một vài vấn đề về chính tả và từ ngữ tiếng Việt dùng trong Đặc San Đa Hiệu, Ban Biên Tập Đa Hiệu đề ra một số quy định cần thiết tạm thời sau đây. Những quy định này được dựa vào những thỏa thuận mặc nhiên giữa những người Việt làm việc viết lách và những tiện lợi trong viêc ấn loát. Hiện nay người Việt chưa có một quy ước chung về nhiều vấn đề liên quan đến chính tả, cho nên có thể có những lối viết khác nhau. BBT Đa Hiệu chỉ quy định ở đây một số nguyên tắc rất tổng quát cần có ngay, được đa số tán đồng và có vẻ hợp lý hơn cả.
I. Từ Ngữ Khó Nghe do chế độ CSVN đặt ra 1. Xin miễn dùng những từ ngữ của chế độ CSVN chế ra nhưng chối tai, làm cho tiếng Việt thiếu trong sáng trong khi phía người Việt quốc gia đã có những từ ngữ tương đương rõ ràng chính xác hơn. Thí dụ: hải quan, hồ hởi, sự cố, đảm bảo, đại trà... Nhưng nếu nói về một tổ chức, cơ quan của CSVN thì giữ nguyên văn danh xưng của nó, như trong câu “Trạm Hải Quan Tân Sơn Nhất...”
2. Cũng không nên dùng những từ ngữ nặng kiểu cách của CSVN và không phản ảnh trung thực ý nghĩa của câu văn như: “Hãy ăn uống khẩn trương cho kịp giờ làm việc;” hoặc “Bài hát này do ca sĩ XYZ thể hiện.”
3. Tuy nhiên những từ ngữ do CSVN đặt ra mà phía người Việt quốc gia không có, nhất là những thuật ngữ kinh tế, tài chánh, điện toán mới ra đời nhưng trong sáng, khó nhầm lẫn thì có thể sử dụng được. Thí dụ: tiếp thị, phần mềm, giao diện...
4. Không thể chấp nhận những từ ngữ CSVN rút ngắn một cách cẩu thả như bệnh “tiêu chảy cấp” thay vì tiêu chảy cấp tính; hoặc như “Ông K’Nor là người dân tộc” thay vì “người dân tộc thiểu số;” hoặc như “Tuyển Việt Nam tham dự Thế Vận Hội” thay vì “đội tuyển hay tuyển thủ”. Tiết kiệm một chữ đã làm cho cả mệnh đề trở nên mơ hồ, khó hiểu khiến người nghe phải suy nghĩ một lúc mới nắm được ý nghĩa.
5. Nên dùng các địa danh trên thế giới đã được phía người Việt quốc gia dùng quen từ nhiều năm: a) Dịch theo nghĩa chữ Hán Việt như Nhật Bản, Đông Kinh, Hương Cảng, b) Đọc theo chữ Hán do người Hoa phiên âm mà người Việt dùng hàng trăm năm nay đã thành tiếng Việt ròng nghe rất thuận tai như Pháp, Đức, Phần Lan, Na Uy, Nga, Úc, Mỹ, Mạc Tư Khoa... hoặc viết y nguyên theo cách viết tiếng Anh như Belarus, Bolivia, Kosovo, Marseille khi dùng tên do phiên âm từ chữ Hán nghe không thuận tai v.v... mà không phiên âm theo kiểu kỳ quặc như Ốtx-trây-li-a, Matxcơva...
Riêng các địa danh các lãnh thổ có ảnh hưởng chữ Hán thì nên dùng từ Hán Việt thay vì theo những lối viết không hợp lý và khó quen thuộc như: Hán Thành thay vì Seoul; Đông Kinh thay vì Tokyo; Đài Loan thay vì Taiwan, Singapore thay vì Tân Gia Ba v.v... Riêng trường hợp hai nước Hàn, nên gọi là Nam Hàn và Bắc Hàn thay vì Hàn Quốc và Triều Tiên.
6. Không dùng những danh từ đi ngược lại với khẳng định lập trường của người Việt yêu nước như: - Không gọi cuộc chiếm đóng Miền Nam của CSVN là “giải phóng,” như trong câu “Từ ngày giải phóng đến nay...” - Không dùng nhóm chữ “học tập cải tạo” hay “học tập” để chỉ việc bị CSVN bỏ tù và thời gian bị cầm tù trong các trại tù của CSVN. Những từ ngữ loại này nếu ở trong một đoạn văn trích dẫn của sách báo CSVN thì có thể giữ nguyên văn.
II. Cách Đặt Câu Kém Trong Sáng Hiện nay báo chí ở trong nước (mà nhiều báo chí, đài phát thanh ở hải ngoại nhắm mắt bắt chước)) thường có lối viết bất chấp những liên từ và giới từ cần thiết cho ý nghĩa của mệnh đề được rõ ràng, tránh hàm hồ. Thí dụ: “Trả lời phỏng vấn đài phát thanh BBC, Thủ Tướng Anh nói rằng...” thay vì “Trả lời cuộc phỏng vấn của Đài Phát Thanh BBC...” Nên tránh lối đặt câu hàm hồ thiếu giới từ như vậy để không bị hiểu lầm là Đài BBC được người khác phỏng vấn.
Một lối viết hàm hồ tiêu biểu là danh từ “ấn tượng” được dùng một mình như động từ hay tính từ. Thí dụ: “Một giọng hát ấn tuợng” trong khi đáng lẽ phải viết “Một giọng hát gây ấn tượng (xấu hay tốt)” Hoặc như câu “Đội bóng chuyền Nhật đã thi đấu ấn tượng tuy không đoạt giải vô địch.” Hoặc: “Tôi tranh thủ viết thơ này cho ông...” Tranh thủ là động từ trực tiếp (transitive verb), cần có túc từ trực tiếp: phải viết... “Tôi tranh thủ thời gian để viết thơ này...” Hoặc “Đại diện phái đoàn Mỹ đã trình bầy thuyết phục biện pháp giải quyết;” đáng lẽ phải viết “...đã trình bầy một biện pháp giải quyết có sức thuyết phục cao...”
III. Chữ Hoa 1. Danh từ riêng như tên người, cấp bậc, chức tước, địa danh, tên sự vật quan trọng như dinh thự, cung điện, tầu bè tổ chức, phong trào và các danh từ riêng tương tự. Các danh từ riêng này phải được viết hoa toàn thể dù là một, hai hoăc ba chữ trở lên. Thí dụ: Trần Tư, Nguyễn Văn Ba, Trần Phạm Anh Dũng, Công Tằng Tôn Nữ Bạch Tuyết, Viêt Nam Cộng Hòa, dinh Độc Lập, Sài Gòn, Nha Trang, Đồng Tháp Mười, Ban Mê Thuột, Thủ Dầu Một, đảng Bảo Thủ Úc, chủ nghĩa Cộng Sản
2. Danh từ kép chung chỉ chức vụ, cấp bậc dùng theo nghĩa riêng gắn liền với một danh từ riêng:
Để giản dị hóa và hợp lý hóa lối viết, thiết tưởng nên chấp nhận lối viết sau đây được nhiều người dùng trong những thập niên từ khoảng 1950 trở đi, coi danh từ kép loại này là một tập hợp trong đó các từ đều có chung một chức vụ liên kết nhau nên:
- Đối với danh từ chỉ cấp bậc, danh hiệu, chức tước, học vị: được viết hoa tất cả khi đi cùng những từ chỉ đích danh như tên người, tên riêng của một định chế, một tổ chức, một lãnh thổ, một thời kỳ không thể lầm lẫn. Thí dụ: Thống Tướng MacArthur; Trung Sĩ John Brown; Bà Hillary Clinton, Ngoại Trưởng Mỹ; Dân Biểu Smith. Không áp dụng lối viết hoa chỉ một chữ đầu trong danh từ riêng kép.
- Không viết hoa tất cả nếu danh từ ấy không chỉ đích danh một người, viết ở trong dòng. Thí dụ: “Bộ trưởng bộ Tài Chánh Liên Bang Hoa Kỳ đến dự cuộc họp của các bộ trưởng tài chánh các tiểu bang miền Tây Hoa Kỳ.” Hoặc “Cùng đến dự tiệc mừng ngày lễ Giáng Sinh có cả tổng thống Pháp.”
- Ngoại lệ: Tác giả các bài thơ hay những đoạn văn có văn thể trừu tượng có thể viết hoa những từ ngữ thường nhưng cần nhấn mạnh hoặc để tạo ấn tượng sâu đậm đối bới người đọc.
IV. Tên người Việt Các tên riêng của nguời Việt trong các văn bản tiếng Việt hoặc tiếng Anh nếu có của Đa Hiệu phải được viết theo thứ tự Việt Nam. Thí dụ: Lê Văn Tám, không viết Tám Văn Lê hoặc Tám Lê. Nếu là tên pha trộn Việt Anh thì để y nguyên.
V. Ngày tháng năm ghi bằng số Trong các văn bản, bài vở tiếng Việt của Đa Hiệu, nhóm số tắt chỉ thời gian được ghi theo thứ tự ngày, tháng, năm. Thí dụ: Ngày 19 tháng 6 năm 2009 được ghi tắt là 19/6/2009. Trong văn bản tiếng Anh nếu có, sẽ ghi là 6/19/2009, hoặc June 19, 2009.
VI. Bỏ dấu Xin lưu ý đánh mỗi dấu trong 5 dấu âm tiết (diacritical marks) [‘ ` ? ~ . ] vào ngay trên hoặc duới nguyên âm chính của một từ. Nếu chỉ có 2 nguyên âm thì bỏ dấu vào nguyên âm đi trước; nếu có một nguyên âm đi cùng một hay nhiều phụ âm thì bỏ dấu vào nguyên âm; nếu từ có hai nguyên âm đi giữa nhiều phụ âm thì bỏ dấu vào nguyên âm đi sau; nếu từ có một hay nhiều phụ âm vói hai ba nguyên âm đi sau cùng thì bỏ dấu vào nguyên âm nào có vai trò chính.
VII. Trình bày bản văn trên trang điện toán 1- Ban Biên Tập sử dụng nhu liệu VNI để lên khuôn in (lay out) các bài viết vì VNI dễ trình bầy với nhiều kiểu chữ. Vì thế để giúp cho việc lên khuôn in ấn đỡ tốn thì giờ, xin quý vị gửi bài cố gắng dùng VNI với kiểu chữ (font) VNI-Times, cỡ chữ 12.
2- Để thuận tiện cho kỹ thuật ghép trang, xin quý vị gửi bài trình bầy bài của mình theo quy định như sau:
a)- Đầu mỗi đoạn (paragraph) thụt vào 1 tab (5 spaces) và không chừa hàng trống giữa hai paragraph.
b)- Các dấu phẩy, chấm phẩy, chấm, chấm than, dấu hỏi, hai chấm (, ; . ! ? :) đều đứng sát liền chữ trước nó.
Thí dụ: Sai => Mai vàng nở mùa Đông !!! Đúng => Mai vàng nở mùa Đông!!!
c)- Dấu ngoặc kép hoặc ngoặc đơn để đóng và mở một câu, một đoạn, một nhóm chữ cần sát chữ đứng bên phải nó (cho dấu ngoặc mở) và sát chữ đứng bên trái nó (cho dấu ngoặc đóng).
Thí dụ: Sai => Mẹ tôi nói : " Các con phải chăm chỉ học hành ". Đúng: => Mẹ tôi nói: "Các con phải chăm chỉ học hành".
d)- Chỉ xử dụng ... và ba chấm này đứng sát chữ trước nó, không chừa space:
Thí dụ: Sai => Anh thấy em trong đó ... Đúng => Anh thấy em trong đó... *** Ban Biên Tập sẽ dành quyền sửa lại chính tả của các bài nhận được theo các quy định tạm nói trên trước khi ấn hành.
VN phản đối LHQ cấp quy chế tỵ nạn cho giáo dân Cồn Dầu
RFA 01.09.2010
Bộ Ngọai giao Việt Nam hôm thứ Tư 1-9-2010 cho biết sẽ phản đối
mọi quyết định của Liên Hiệp Quốc cấp quy chế tỵ nạn chính trị cho số
giáo dân Cồn Dầu chạy sang Thái Lan lánh nạn sau cuộc đàn áp đẫm máu của
công an hồi tháng 5.
RFA
Những người dân Cồn Dầu đang lánh nạn tại Thái Lan phải sống lén lút. (theo yêu cầu vì an toàn chưa tiện để thấy mặt) RFA
34
giáo dân Công Giáo này đã tới thủ đô Bangkok của Thái Lan và xin Cao ủy Tỵ nạn
Liên Hiệp Quốc UNHCR cho họ được hưởng quy chế tỵ nạn chính trị. Hiện họ rất lo
ngại cho sự an tòan của thân nhân họ còn ở lại quê nhà.
Số
người lánh nạn vừa nói thuộc Giáo xứ Cồn Dầu ở gần thành phố Đà Nẵng, nơi công
an đã đánh trọng thương và rồi bắt giam hàng chục người Công Giáo sau cuộc đàn
áp ấy.
Nhưng
giới cầm quyền cho rằng trường hợp xảy ra tại Giáo xứ Cồn Dầu là hòan tòan
không liên quan gì tới tôn giáo. Phát ngôn viên của Bộ Ngọai giao Việt Nam, bà
Nguyễn Phương Nga, lên tiếng như vậy với Thông tấn xã Đức Quốc DPA hôm thứ Tư 1-9.
Theo
viên chức này thì không có chuyện đàn áp tôn giáo hay chính trị tại Việt Nam,
do đó, “mọi quyết định công nhận công dân Việt Nam là người tỵ nạn chính trị là
vô căn cứ và không thích hợp”.
Chính
phủ Việt Nam cho rằng cuộc xung đột ở Cồn Dầu bắt nguồn từ việc tranh chấp đất
đai, khi người dân Cồn Dầu tìm cách cử hành một đám tang ở khu nghĩa trang Công
Giáo vốn bị chính quyền quy họach di dời để biến nơi này thành khu du lịch sinh
thái Hòa Xuân.
Hồi
tháng 8 vừa rồi, thân nhân của giáo dân Cồn Dầu lên tiếng trước một Ủy ban của
Quốc Hội Hoa Kỳ rằng công an đã đánh đập người thân họ, và một giáo dân, ông
Nguyễn Thành Năm, bị công an đánh chết trong đồn.
Khi lên tiếng
với Đài Á Châu Tự Do mới đây, những người tỵ nạn ở Thái Lan cho biết tất cả đều
muốn được tự do hành đạo. Và họ phải rời bỏ đất nước vì bị đàn áp, đe dọa.
Hiện
họ rất lo ngại cho sự an tòan của thân nhân còn ở lại quê nhà, nơi, theo lời một
người yêu cầu ẩn danh kể lại, công an thường xuyên theo dõi và kiểm tra hộ khẩu
của người thân.
Vẫn theo những
giáo dân tỵ nạn ấy, hiện họ không thấy an tòan trên đất Thái trong khi chờ Cao ủy
Tỵ nạn quyết định về quy chế tỵ nạn cho họ, vì họ sợ bị cảnh sát Thái bắt và
đưa trở lại Việt Nam.
Một phụ nữ trong nhóm cho Đài Á Châu Tự Do biết là trong 3-4
tháng nay nương náu ở xứ Chùa Vàng, nhóm giáo dân này phải đổi chỗ ở tới 7-8 lần
vì lý do an tòan.
Trong
những năm gần đây, đã xảy ra nhiều cuộc đàn áp của giới cầm quyền đối với tu sĩ
và giáo dân Công Giáo, phần lớn bắt nguồn từ việc đất đai của Giáo Hội bị cưỡng
chiếm.
Tại
Hà Nội, hồi năm 2008 đã xảy ra nhiều tháng biểu tình của giáo dân tại Tòa Khâm
Sứ và Giáo Xứ Thái Hà đòi lại đất của Giáo Hội mà Hà Nội cưỡng chiếm hồi thập
niên 1960. Những vụ chống đối khác diễn ra tại Hà Tây và Đà Nẵng.
Việt
Nam là quốc gia có số giáo dân Công gáio chừng 6 triệu người, nhiều thứ nhì tại
Á Châu chỉ sau Philippines.